Những bài mới nhất

 

alt

 

Hình ảnh Mẹ tôi thuở tôi còn thơ ấu là những kỷ niệm gắn liền với đời sống cầu nguyện. Cái hình thức cầu nguyện mộc mạc, giản dị của người nhà quê nghèo, ít học, và cũng vì nó đơn sơ nên tôi nhớ mãi.

Khi tôi biết bập bẹ tập nói thì Mẹ bắt tay phải, dậy cho làm dấu Thánh giá trên trán, dạy đọc thuộc lòng những bài kinh ngắn (như kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng, kinh Sáng Danh). Ngoài việc chiều chiều lẫm chẫm theo Mẹ đi lễ nhà thờ, thì mỗi tối trước khi đi ngủ Mẹ bắt lập lại theo Mẹ tới độ thuộc lòng những “bài” cầu nguyện ngăn ngắn theo kiểu “tự phát”, đại loại như sau: “Con xin Chúa, xin Đức Mẹ, xin Thánh Giuse gìn giữ con đêm nay được bình an trong tay Ba Đấng… Xin ban cho con “hay ăn chóng lớn, học hành tấn tới”… Con xin cảm ơn Ba Đấng con đi ngủ.”

Đấy là “phần” của chị em chúng tôi. Làm xong “bổn phận sự” là chúng tôi lăn ra ngủ. Thế còn Mẹ cầu nguyện riêng điều gì, tôi đâu có biết. Chỉ biết là lắm khi tôi đã ngủ “no mắt” một giấc rồi, thức dậy thấy Mẹ vẫn đang ngồi lần chuỗi một mình.

Hồi nhỏ chúng tôi (tức là các chị em tôi) đứa nào cũng từng trải qua cái màn “thẩm vấn” kỳ khôi như thế này. Không rõ cái “bản văn” này có phải được du nhập vào miền Nam theo làn sóng di cư 1954? Tôi còn nhớ như in bài “hỏi đáp” này như sau:

- Con tên gì? – Con tên…
- Con lên mấy? – Con lên ba (bốn, năm).
- Con là con ai? – Con Đức Chúa Trời.
- Cháu ai? – Cháu Adong.
- Giòng ai? – Giòng Đa-vít.
- Vít gì? – Vít vồ. (???) (*)
- Quê ở đâu? – Quê ở Thiên đàng.
- Họ hàng với ai? – Họ hàng với các thánh.
- Tên thánh là gì? – Tên thánh là Anna.
Thưa xong câu này tôi sà ngay vào lòng Mẹ, lần nào cũng thế, chỉ mong cho màn “thẩm vấn” mau đến câu cuối cùng.

Đấy là chuyện “ngày xưa còn bé”. Giờ thì tôi chỉ còn được “nhìn” thấy Mẹ trong trí tưởng, hình ảnh bà cụ những ngày cuối đời, trên tay lúc nào cũng là xâu chuỗi, miệng móm mém thì thào từng câu kinh. Những bài kinh mà thời trẻ bà say mê đọc, thì ở tuổi già bà vẫn đọc, như một quán tính. Nơi bà cụ, tôi tìm thấy ý nghĩa của câu Kinh Thánh này: “Người đầu bạc thì khôn ngoan và tuổi già là một cuộc đời thanh sạch” (Kn 4,9).

 

Phay Văn

10/5/2012

(*) Vít- vồ là từ cổ của giáo dân Việt Nam. Thuở xưa linh mục được gọi là Thầy cả, còn giám mục được gọi là “vít- vồ”. Từ này có gốc từ tiếng Bồ Đào Nha Bispo, hoặc nói trại từ tiếng Latin Épiscovo mà ra.

 

 

 

alt

 

Đề tài “Tình cha mẹ” là một đề tài rất xưa cũ và cũng là rất mới.

Bởi vì đã có rất nhiều thi văn nhạc sĩ đã viết về nó. Chúng ta đã nghe, đã đọc và cũng đã nhiều lần rơi lệ khi nghe những bài hát, cũng như khi đọc những áng văn thơ viết về đề tài này.

Từ những ngày còn nhỏ, chúng ta đã từng nghe bà, nghe mẹ hát ru:

Ầu ơ…

Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Những lời ru đó ngỡ sẽ như là những hạt bong bóng nước trôi đi nhanh chóng vào những ngày trời mưa. Nhưng không, nó đã ở lại trong tim của một cô bé Việt Nam sinh ra và lớn lên tại hải ngoại. Bất ngờ như một mùi hương thoang thoảng tỏa ra từ một khu vườn cổ tích… Cô đã làm cho Mẹ cô cảm động đến không ngờ vì chị chưa bao giờ có dịp giải thích với con về đạo hiếu, mà cháu đã hiểu được như vậy. Và cũng đã làm cho tôi chảy nước mắt khi đọc những lời tình nghĩa dễ thương và quý giá đó. Nhất là của một người con sinh ra và lớn lên ở một phương trời cách biệt quê hương nửa vòng trái đất!

Trong một bài tập làm thơ ở lớp, cô bé đã nhớ lời mẹ ru ngày xưa và ghi lại:

“Sonnet 1

So tall, so strong, so right, and terribly old
With eyes that shine as wise as Athena's bird
I came to you when times were dark and cold
Your warmth erased the hurt I had endured

You've raised me since I was a little girl
I will forever think of all you've taught
You give up so much to give to me the world
And for me you'd kill without a second thought

I'm older now and understand: In truth
You're not that strong and only four feet ten
It's now my turn to sacrifice for you
To fulfill the words our ancestors once penned

The famous final lines found in the song
Đó là: Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

                                    Vân Nguyễn Quỳnh-Hương

*The final line of the poem comes from the final line of a famous Vietnamese ca dao. There is no equivalent English term for the word ca dao; it is similar to a proverb structured as a short poem. The final line when translated in English is:

To complete the circle is to be a true son or daughter

The ca dao reminds us of our duty to care for our parents when they become too old to take care of themselves in return for all we received in childhood. In essence, the ca dao tells us to complete the circle of filial piety.

Bài Thơ 14 Câu Cho Mẹ

Như chim Athena cao lớn và mạnh mẽ, (*)
Có đôi mắt sáng rực và khôn ngoan, là mẹ!
Khi con đến bên mẹ trong đêm tối và giá lạnh
Hơi ấm mẹ xóa tan nỗi đau con khóc chào đời

Mẹ đã nuôi con khi con còn là cô bé nhỏ
Con sẽ mãi khắc ghi trong lòng lời mẹ dạy
Tình mẹ hy sinh cho con cả thế giới này
Vì con, mẹ đã chôn kín những ước mơ xanh

Nay con đã lớn khôn và hiểu ra sự thật
Mẹ không mạnh mẽ và chẳng cao lớn hơn con!
Giờ sẽ đến phiên con đền đáp tình mẹ
Thực hiện những tôn chỉ của tổ tiên mình

Câu hát cho mẹ con tìm thấy trong lời mẹ ru
Ầu ơ ... "Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con"!


Nguyễn Diệu Tâm phỏng dịch


*Chim Athena: Theo thần thoại hy Lạp, Athena là nữ thần của trí tuệ, khôn ngoan, can đảm, cảm hứng, công lý, sức mạnh, chiến lược, nghệ thuật, tay nghề thủ công, kỹ năng v.v...
Trong sử thi Homere – khoảng thế kỷ 8-9 BC trở đi, Athena được mô tả dưới tên gọi Glaukopis, nữ thần có đôi mắt sáng và lấp lánh, kết hợp giữa từ Glaukos và Ops - Glaux cùng gốc từ với "Owl" (con cú), có lẽ vì đôi mắt đặc biệt của loài chim này. Thời cổ đại, hình ảnh nữ thần Athena thường được mô tả có con chim cú đậu trên tay tên là Glaucus (hoặc "con cú của Athena" và sau đó dưới thời Đế chế La Mã, được gọi là "con cú của Minerva", nữ thần thi ca, nghệ thuật, khôn ngoan ...). Cặp đôi nữ thần và chim cú này được lưu truyền và phát triển đến ngày nay. Loài chim cú được tôn trọng như một biểu tượng của sự thông minh và uyên bác.” [1]

Tôi cũng đã khóc khi đọc bài của anh Đoàn Xuân Thu viết về việc Cha anh đã chọn thêm nghề đánh máy mướn sau những giờ làm trong công sở. “Hôm nào được lãnh lương hoặc đánh máy có tiền nhiều, Ba vẫn thường ghé qua xe bán bánh mì Tám Cẩu ở ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản, gần rạp hát Đại Đồng, mua vài ổ bánh mì về cho con.

Về nhà Ba vô giường, bế từng đứa dậy, đặt ngồi ngoài bàn, rồi bảo: “Ăn đi con!” Ăn thì khoái thiệt nhưng ‘bù ngủ’ híp con mắt luôn! Em gái tôi cắn miếng bán mì nhai, chưa kịp nuốt thì gục xuống bàn… ngủ tiếp. Ba lại bế từng đứa, cho vào giường ngủ.” [2]

Tôi hình dung ra hình ảnh người cha sau 16 giờ làm việc trong ngày. Ngoài trời đã khuya. Người đã quá mệt mỏi. Vậy mà, ông còn ghé ngang qua xe bán bánh mì thịt mua cho các con. Khi về đến nhà lại bế từng đứa con ra khỏi giường kêu chúng ngồi dậy ăn, trong khi ông còn chưa ăn bữa cơm chiều!

Tôi đã không cầm được nước mắt. Và chắc bạn cũng không cầm được nước mắt khi nhớ về người cha của mình năm xưa... Những người Cha đã tận tụy hy sinh tất cả, chỉ mong cho con mình có một ngày mai tươi sáng.

Con như trăng mãi vun đầy

Bên cha lại khuyết – hao gầy tháng năm

Một thời gian khổ, khó khăn

Cha luôn đứng mũi lo chăm cả nhà

Như vậy thật không ngoa khi có ai đó nói rằng mỗi ngày đều là ngày của Cha và của Mẹ. Và:

Nước biển mênh mông không đong đầy Tình Mẹ

Mây trời lồng lộng không phủ kín Công Cha.

Chỉ ước mong sao những người con biết thương yêu và săn sóc cha mẹ mình ở lúc tuổi già, đừng bỏ rơi hai đấng sinh thành. Như trường hợp của một ông cụ, đã bán hết cơ ngơi sự nghiệp của mình để đi theo người con đến một nơi xa lạ đúng với ý thích của con. Tiền tài hao cạn, sự nghiệp không còn khi cậu con đã học xong ra trường và may mắn có việc làm tốt. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, cậu đi theo tiếng gọi của con tim, bỏ lại người cha hy sinh suốt đời cho mình. Cụ đau buốt tâm can, nhất là khi tin tức của đứa con dần dần biệt tăm. Quá đau khổ, cụ đã té ngã và bị liệt, phải sống cô đơn suốt đời trong một nhà dưỡng lão.

 

Trần Thị Nguyệt Mai

Tháng 6, 2013

 

[1] Bài Thơ 14 Câu Cho Mẹ  –  Nguyễn Kim Tiến (TQBT số 56 tháng 6 năm 2013)

[2] Ba Tôi! Người Đánh Máy Mướn! –  Đoàn Xuân Thu (TQBT số 56 tháng 6 năm 2013)

[3] Ngày Từ phụ - Nghĩ về những người cha cô đơn – Chu Tất Tiến http://dactrung.net/phorum/tm.aspx?m=464593

 

 

 

 

 

Trời bắt đầu vào đông. Thời tiết se lạnh khiến tôi uể oải không muốn ra vườn ngồi uống cà phê như mọi ngày. Cảnh vật u buồn, ảm đạm. Những cây hoa hồng chung quanh nhà và sau vườn đã trụi lá, không còn một cánh hoa nào nữa.


Chiều hôm qua khi ra vườn quét lá, gom những chiếc lá thu cuối cùng còn sót lại trên thảm cỏ úa vàng, tôi chợt trông thấy một hoa hồng trắng trong bụi cây xơ xác bên nhà.

Cây hoa hồng trắng này hình như tôi đã bỏ quên từ lâu lắm.

Tuy lạ lùng nhưng thấy cánh hoa hồng trắng đẹp quá và trời sắp mưa lớn nên tôi vội cắt hoa đem vào nhà. Tôi rất yêu hoa hồng. Khu vườn hồng nhà tôi với đủ mọi sắc màu: đỏ, hồng, vàng, cam, tím, xanh, trắng… và tôi vẫn thường cắt những cánh hoa hồng xinh đẹp này đem vào nhà chưng.

Chưa bao giờ nhà tôi chưng hoa hồng màu trắng và lại là một cành hoa duy nhất. Vì tuy mua cùng một chỗ, trồng cùng một lúc, cùng tưới nước và dùng một loại phân bón giống nhau, cây hoa hồng trắng của nhà tôi chưa từng bao giờ nở hoa.

Sáng hôm sau đang còn ngủ nướng trên giường, điện thoại reng. Chị tôi ở Việt Nam gọi sang báo tin mẹ vừa mới mất. Lúc mẹ ra đi trời mưa lớn như các con đang khóc mẹ.

Tôi như kẻ mộng du bàng hoàng tỉnh giấc, nhảy vội xuống giường. Vội vàng mở máy computer lên. Từ ngày trở về Mỹ lại tôi vẫn theo dõi cuộc sống, bệnh tình của mẹ hàng ngày qua mạng Skype.

Cách đây ba ngày mẹ tôi bắt đầu đau đớn nhiều và rơi vào tình trạng hôn mê. Bác sĩ cho biết không còn bao lâu nữa.

Tôi khóc nức nở trước màn hình máy computer khi thấy mẹ rên rỉ, mặt mày nhăn nhó đau đớn:

- Mạ ơi ! Mạ hứa sẽ sống chờ con sang năm về thăm mạ nữa mà!

Khẽ mở mắt ngơ ngác nhìn chung quanh nhà với đôi mắt trắng đục vô hồn, mẹ mấp máy:

- Ừ…mạ…chờ…!

Từ hốc mắt sâu hoắm của mẹ,  tôi thấy dòng lệ chảy dài xuống gò má nhăn nheo.

Tôi vật vã thảm thiết:

- Mạ đừng đi mạ ơi! Con sẽ về ngay.

Chị tôi dỗ dành:

- Mạ đau đớn lắm rồi và không còn biết gì nữa! Em đừng khóc, mạ nuối không đi được. Hành xác lâu hơn càng khổ và tội cho mạ.

Biết tôi là đứa dễ xúc động, hay khóc nhất làm mẹ tôi kéo dài nghiệp dĩ, không đi được dễ dàng nên bên nhà quyết định cúp máy không cho tôi xem nữa. Ngày hôm sau mẹ tôi trút hơi thở cuối cùng.

Mẹ tôi đã gặp được tất cả các con ở nước ngoài về thăm. Các anh chị em ở ngoài Huế vô đầy đủ. Thế là mẹ đã thoát khỏi mọi hệ lụy của cuộc đời, mãn nguyện ra đi trong sự thanh thản, nhẹ nhàng như lời cầu xin của chúng tôi với bố khi ông quyết định rước mẹ tôi về bên ông.

Còn nhớ tháng trước khi về thăm mẹ, tuy cơ thể đã yếu nhưng đầu óc mẹ hãy còn minh mẫn lắm. Tôi đã có một tháng hạnh phúc bên mẹ. Hằng đêm nghe mẹ kể chuyện tình cách đây hơn sáu mươi năm của cô nữ sinh xứ Huế, yêu anh chàng Bắc kỳ lãng tử, tứ cố vô thân bị ôn mệ ngăn cấm.

Buổi sáng trong khi mẹ uống sữa ăn cháo, tôi nhâm nhi ly cà phê sữa nóng. Tiếp tục nghe mẹ kể chuyện về con cái - từ đứa lớn nhất tới đứa bé nhất. Từ lúc nghèo khổ ở miền Trung cho tới khi vào Saigòn - đất lành chim đậu và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho đến ngày 30-4-75.

Tôi cũng có dịp kể cho mẹ nghe một phần đời của mình ở nước ngoài:

- Mạ biết không! Bên Mỹ sáng ra con đâu được ngồi nhâm nhi cà phê hàng giờ như bên này. Sáng thức dậy từ lúc 5 giờ. Chuẩn bị tất cả mọi thứ cho gia đình xong, cầm ly cà phê chạy ra xe cho kịp giờ đến chỗ làm, vừa nghe nhạc Việt Nam, vừa uống cà phê trong xe trên đường đi làm...

Mẹ lơ đễnh nghe, chẳng thể hình dung nổi những điều tôi vừa kể.

Chúng tôi cố ép mẹ uống sữa, ăn cháo, súp dinh dưỡng cho có sức để chóng lành bệnh nhưng mẹ ăn uống rất miễn cưỡng, không ngon miệng. Mẹ bảo chỉ thèm bún bò Huế, bánh canh, bánh bèo, bánh nậm …

Tôi nhớ chị bạn bên Mỹ có chồng bi bệnh ung thư. Ông rất thích ăn ngon và ăn rất nhiều. Trong thời gian chữa trị phải kiêng cử đủ thứ. Khi bác sĩ “chê” cho về nhà chờ ngày ra đi, chị bạn quyết định cho anh ăn tất cả các thứ anh thèm. Ngày nào chị cũng nấu phở, bún, bánh cuốn, xôi lạp xưởng cho anh ăn.

Mẹ tôi cũng bị bác sĩ “chê” cho đem về nhà. Ăn hay không ăn thì cuối cùng cũng xuôi tay nhắm mắt. Tôi không muốn khi mất mẹ trở thành con ma đói, thèm  thuồng đủ thứ.

Tôi nói với mẹ:

- Mai con mua cho mạ tô bánh canh cua hỉ. Chỗ này bán ngon lắm !

Đêm đó tôi thấy mẹ trăn qua trở lại không ngủ được. Tôi cố gắng nằm im vì sợ động đậy nhiều làm mẹ thức giấc. Sáng ra tôi hỏi ngay:

- Tối qua mạ mệt hay sao mà không ngủ được ?

Mẹ cười bẽn lẽn:

- Mạ nằm cứ nghĩ tới tô bánh canh cua mà không ngủ được. Chỉ mong cho mau sáng để được ăn.

Ôi! Tôi thương mẹ quá! Tôi quyết định không bắt mẹ ăn kiêng cữ gì nữa. Cứ một ngày ăn cháo, súp dinh dưỡng thì một ngày ăn các thứ mẹ thèm dù các chị em tôi phản đối. Tất cả những gì làm được cho mẹ tôi đều muốn làm khi mẹ còn sống. Sau khi mẹ mất rồi tất cả mọi thứ trên đời đều trở thành vô nghĩa.

Văn hóa Đông, Tây luôn có sự khác biệt và không bao giờ gặp nhau. Người Mỹ thường ăn mừng ngày sinh nhật và người mình thường quan trọng ngày chết, ngày giỗ. Đám tang bên Mỹ được tổ chức trang nghiêm, lặng lẽ, tôn kính, nhanh gọn. Đám tang ở Việt Nam kéo dài gần cả tuần, chộn rộn, đông đúc, ồn ào - từ lúc liệm xác, phát tang, cúng cầu siêu, viếng thăm, giờ phút động quan cho tới khi hạ huyệt. Tất cả cũng chỉ mong cho người chết đươc vui lòng và sớm siêu thoát về cõi vĩnh hằng.

Tôi không may mắn được về Việt Nam thọ tang mẹ. Qua mạng Skype tôi cảm thấy như mình đang đứng cạnh và nghe thấy tất cả mọi việc trong đám tang của mẹ. Tôi xem cứng cả mắt, lạnh cả người nhưng khóc thì không thể nào khóc được.

Tôi thèm được khóc khi mẹ còn sống. Thèm được nhìn thấy hình ảnh con cái thương yêu, quây quần bên mẹ khi mẹ còn sống. Thèm được thấy đứa con trai trưởng mà bố mẹ tôi cưng như ngọc như vàng dâng cơm cho mẹ mỗi ngày khi mẹ tuổi già, sức yếu. Những điều tưởng như nhỏ nhặt ấy chúng tôi đã không làm được khi mẹ còn sống để mẹ vui lòng. Thì khi mẹ mất đi - đám tang lớn, nhỏ để nói lên ý nghĩa gì hay chỉ còn là nỗi ân hận, ray rứt mà thôi.

Mỗi màu sắc của hoa hồng đều có ý nghĩa riêng của nó.

Tôi là hoa Hồng đen của mối tình đầu lãng mạn. Dù chàng hết lời ca tụng nhưng tôi vẫn ghét cái màu đen tang tóc này: Hoa hồng đen tượng trưng cho vẻ đẹp tinh thần. Không rực rỡ, nổi bật khi xuất hiện nhưng là sắc màu bí ẩn. Hoa hồng đen còn tượng trưng cho những đam mê, khát khao và chàng yêu tôi bởi sự cô đơn, lạnh lùng đó.

Hoa hồng đen khiến tôi linh cảm đến một tình yêu sẽ chết và quả thật tình đầu tuy đẹp nhưng rất mong manh, dễ vỡ. Trong lá thư cuối cùng chàng viết cho tôi: Anh không chúc bé “Trăm năm hạnh phúc”. Anh chỉ xin chúc “Đoá hồng đen” của anh từ nay sẽ là “Đóa hồng vàng” vĩnh viễn. Quên nhau là chúc nhau hạnh phúc trọn vẹn.

Khép lại quá khứ thương đau và sẵn sàng bắt đầu cuộc sống mới. Vâng! Tôi đã là cánh hoa hồng vàng, say đắm với nụ cười luôn rạng ngời, hạnh phúc trên môi.

Tôi tin vào linh cảm của mình. Chiều mưa hôm ấy, giữa hai bờ đại dương cách trở, Hoa Hồng Trắng lẻ loi xuất hiện bởi “thần giao cách cảm” của lòng mẹ bao la -  Như một thông điệp gởi tới đứa con xa quê hương của mẹ - Tôi biết tôi phải khóc mẹ hôm nay.

Xin gởi Hoa Hồng Trắng này tặng tất cả chị em tôi - Từ hôm nay chúng ta sẽ cài Hoa Hồng Trắng trên ngực áo.

 

Hải Âu

2013

 

 

 

 

 

alt

Wish I could be with you on Mother’s Day…

I want you know that I’m thinking of you…

 Tôi cầm tấm thiệp lên, mắt nhòa đi khi đọc những dòng chữ đơn giản đó. Chính những lời đơn giản nhất mới nói được những gì khó nói nhất. Tấm thiệp với hình ảnh cô bé ngồi đơn độc trên băng ghế, cô đang nghĩ đến một người, như tôi.

Trời London chiều nay trở lạnh, hai hàng cây bên đường còn trụi lá, nghe rõ tiếng giày trên nền đường vắng. Nhưng cây Magnolia trước sân nhà đã bắt đầu nở trắng. Tôi hỏi bạn sao không trồng hoa có màu hồng nhạt. Màu trắng dễ thương hơn. Ừ nhỉ, màu trắng như tấm lòng của người con nghĩ về mẹ, trong sáng như thế. Mãi mãi như thế.

Tôi nhớ có lần nằm mơ gặp mẹ, tôi bảo tôi sẽ ở lại cạnh, mẹ không cho bảo tôi phải về ngay, gấp nhanh. Trước khi bước lên xe, tôi cố nói một câu: Nhưng sau này con về đây chứ. Mẹ tôi gật đầu. Tôi mở mắt, nhớ lại, à tôi nghe mệt và khó thở, ngã xuống rồi thiếp đi lúc nào không biết, chung quanh không có ai. Ai lay tôi dậy nhỉ, nhớ lời mẹ cương quyết bảo tôi gấp về, về ngay. Thì ra, về gấp là về lại nơi đây, tôi gượng chống tay ngồi dậy, đêm yên ắng, bàn nước quá xa, tôi cảm thấy mình cần một hớp nước cho tỉnh hẳn…

 Mọi chuyện đã qua khá lâu, nhưng trong những ngày cửa hàng nào cũng rực rỡ muôn sắc hoa và những món quà bày cho ngày Mother’s Day,  thì những nỗi niềm về Mẹ dường như vẫn đó.

 Tôi viết những dòng này như một chút chia sẻ với các bạn đang bước chân trên xứ người, nhớ về những người Mẹ đã xa hẳn, và chẳng còn có dịp để “nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người…”.

 

Đạm Kha

2012

 

 

 

 

1

Mạ ngồi đan mũ, đôi tay nhanh thoăn thoắt. Bàn tay Mạ – bàn tay làm việc nhiều suốt cả nửa đời người – đã hơi nhăn, nhưng không hề mất đi vẻ dịu dàng và mềm mại. Chiếc mũ nho nhỏ bắt mối lúc nãy, giờ đã gần xong. Mạ đan nhanh thế đấy! Chiếc mũ này, và cả những đôi vớ đã đan xong, những chiếc áo, những tấm tã may sẵn rồi, là của đứa con của Mạ sắp sửa ra đời. Mạ đặt bàn tay lên bụng. Con của Mạ cựa quậy trong đây! Đứa con thứ chín của Ba và Mạ! Mạ đưa mắt nhìn đàn con đang lớn. Lũ nhỏ nô giỡn với nhau nghe thật vui. Ở một góc, Mỵ ngồi chăm chú đan chiếc vớ. Cô bé thích đan giỏi như Mạ nên cứ đòi Mạ dạy đan cả ngày. Mạ nhìn con mân mê nửa chiếc vớ đan được, nhìn bàn tay con vụng về làm sút mũi, và Mạ nhớ về thời xa xôi, thời ấu thơ của Mạ – đầy nhọc nhằn và đôi khi buồn tủi như quê hương của Mạ bấy giờ.

Hồi đó, Ngoại thì nghèo, đâu có tiền nuôi cho Mạ đi học đến nơi đến chốn. Mười ba tuổi đầu Mạ đã biết đan. Đó là nhờ Mạ học hỏi ở bà con và chị em bạn. Nhưng họ không muốn truyền hết nghề cho Mạ, lại ra điều kiện là phải đan cho họ một vạt áo để học một kiểu. Họ sợ Mạ đan đẹp hơn, nên cố tình giấu giếm. Nhưng tính Mạ kiên nhẫn, nên dần rồi Mạ biết đan tất cả. “Cái khó” không “bó cái khôn” của Mạ, trái lại đã làm cho Mạ khôn ra và lớn lên.

Thời Mạ còn bé là thời Pháp thuộc. Các cơ sở phần lớn đều nằm trong tay người Pháp. Mạ được vào làm trong hãng len của một “bà đầm”. Hàng ngày Mạ đến, ngồi đan áo cho bà đầm bán, và ăn công theo cuộn len. Tánh bà đầm đã khó, lại thêm có mặc cảm tự tôn của kẻ đi cai trị nước khác, nên bà ta càng hách dịch với người làm công. Có lần Mạ đan đã gần xong một vạt áo, bà đầm đến xem, và tìm thấy một chỗ nối len không vừa ý, bắt Mạ phải đan lại. Thế là Mạ vừa khóc vừa tháo vạt áo mà cả buổi Mạ mới đan được, mất cả tiền công lại thêm đau xót cho số phận dân nghèo nước nhược tiểu.

Những thường dân hầu hết đều làm việc cho Tây mới đủ ăn. Ngoại cũng thế. Đôi lúc Ngoại đau, Mạ phải đến làm thay cho ngoại. Bọn Tây cay nghiệt thường dùng những câu chửi rủa bằng tiếng Việt chúng học được để mắng lại người Việt khi họ làm gì trái ý. Mạ đã bị như thế một lần. Nhưng cũng phải cắn răng chịu đựng, nếu không: mất chỗ làm, đói khổ! Mạ đã dấn thân ngoài đời từ năm mười ba tuổi, nên Mạ biết cay, biết nhục, biết khổ sớm hơn con Mạ bây giờ. Sống như vậy, Mạ luôn cố gắng chịu đựng và có được một ý hướng vươn lên, như đồng bào của Mạ đã từng nô lệ, từng đau tủi và từng tranh đấu thoát gông cùm.

Khi Mạ lớn lên, khi Mạ lấy Ba, và khi Mạ có con, Mạ cũng lại chịu gian khổ không ít. Những chuyến tàu Mạ đi một mình đầy nguy hiểm, những ngày tháng nghèo khó nuôi con khi Ba bị động viên… Mạ đã vượt qua bằng sức cố gắng vô cùng. Những đứa con của Mạ, đứa nào cũng làm khổ Mạ vì khó nuôi. Mạ phải “cúng bán” các con để an tâm. Mạ kiêng cữ đủ thứ khi mang thai. Mạ không cho ai bước qua chân Mạ để con ra đời khỏi ốm đau yếu đuối. Mạ cữ ăn chuối chát, sợ con khóc “dạ đề”. Sanh con ra, Mạ không cho ai khen con Mạ mập mạp, bụ bẫm, vì sợ khen là “quở”. Con của Mạ được đội mũ, mang vớ, và mặc áo len đủ kiểu do bàn tay khéo léo và tài đan của Mạ mà thành.

Kỷ niệm đau xót nhất của Mạ là ngày Mạ mất đứa con thứ tư – em của Mỵ – Đó là thời gian Ba ở Ban Mê Thuột vì động viên. Nhà lâm cảnh nghèo túng. Em của Mỵ bệnh nặng. Sáng hôm ấy Mạ đi vay tiền để chích thuốc cho em. Khi về đến nhà, Mạ vội vàng giở mùng để bồng em ra. Nhưng các con – lúc ấy còn bé lắm – nghe Mạ thốt lên:

- Trời ơi! Con tôi sao vầy nè?... rồi Mạ đứng sững. Một phút sau, Mạ ôm lấy em, khóc không thành tiếng. Em đã chết! Các con đứng nhìn nhau, mếu máo. Mạ biết trách ai bây giờ? Mạ chỉ trách Mạ nghèo!

Mạ có con đông. Và Mạ chỉ mong ước có đủ ăn và con của Mạ mạnh khỏe. Mạ không đi xem hát, không ăn tiệm đều đều như thiên hạ. Mạ không ao ước sang giàu. Các con của Mạ! – đó là quà của Trời ban cho Mạ và là niềm vui của Mạ suốt đời. Mạ khóc mỗi lần nhớ đến chuyện mất đứa con. Mạ sợ việc đó, cũng như Mạ sợ các con khổ như Mạ ngày xưa. Mỗi lần đan vớ, Mỵ bảo với Mạ:

- Con nhất định đan giỏi như Mạ hồi trước.

Mạ cười và đôi mắt xa xăm:

- Nhưng đừng cực khổ như Mạ con ơi!

Các con của Mạ không khổ – đúng là niềm mơ ước của Mạ – Con của Mạ được sống trong nguồn hạnh phúc do Mạ và Ba tạo nên. Ba Mạ cho các con học hành đầy đủ và mong đứa nào cũng phải học hết đại học. Những gì Ba Mạ thêu dệt mà không thực hiện được thì dành lại cho các con nối tiếp sau này. Mạ đã sống thời gian đất nước nô lệ, nên Mạ khao khát rằng con của Mạ phải được mở mắt và lớn dậy nhìn quê hương huy hoàng. Ôi đó là hoài bão của Mạ!

Con của Mạ mỗi đứa một tánh. Đứa hay nói đùa, đứa hay giận, đứa lại hay cắn móng tay đến nỗi móng tay không dài được. Nhất là Mỵ thì hay ngồi trên gác cả buổi trưa để “tối tác”, “sáng tác” gì đó (?) Mạ la rầy, nhưng đến khi đọc những bài thơ đăng trên báo của các con viết về Mạ, thì Mạ lại cười. Mạ thích có con đông – có lẽ vì kỷ niệm đau buồn ngày xưa – nên mỗi lần có thai, Mạ mừng hơn bắt được vàng. Mỗi đứa con của Mạ là một hạt ngọc quý vô cùng. Mạ chẳng tiếc gì sang sớt những thứ bổ dưỡng trong người Mạ cho con. Tám đứa con rồi, nhưng đứa nào cũng đều bú sữa Mạ. Mạ không cho con bú sữa bò, vì sợ con không khỏe, vì Mạ muốn tình Mạ cho con được trọn vẹn…

 

… Cu Tiến từ ngoài sân chạy vào, đến lay tay Mạ, nũng nịu:

- Mạ ơi! Đừng đan nữa, vô ru con ngủ…

Mạ bật cười:

- Hư rứa? Lớn đầu rồi còn bắt Mạ ru ngủ. Rồi bữa nào có em bé thì làm sao?

- Không! Mạ ngủ với con hà!

Mạ bế cu Tiến lên, âu yếm:

- Bộ con không thương em bé hở?

- “Hương” chớ sao không “hương”!

Tiếng nói ngọng nghịu của con làm Mạ cười dòn. Mạ hôn cu Tiến, và sung sướng nghĩ đến ngày Mạ – với Ba – với các con – cùng đón một bông hoa vô giá khác hiện diện đến trong đời.

 

2

 

Mạ bừng mở mắt sau cơn mê. Màu trắng bệnh viện và mùi thuốc vây quanh Mạ. Mạ đưa mắt nhìn sang chiếc nôi đặt bên kia. Con của Mạ nằm trong đó phải không? Lần này Mạ sanh khó, nên Mạ lo cho con của Mạ quá! Con của Mạ có nguyên vẹn như anh chị nó không? Con của Mạ có mập mạp xinh đẹp không? Con của Mạ có mệt mỏi như Mạ bây giờ không? Mạ muốn ngồi dậy bước xuống đất nhưng chân tay Mạ nhấc không lên. Mạ lo lắng bồn chồn quá!

Cánh cửa phòng sịch mở: cô y tá vào. Mạ không để ý cô y tá nói gì, bảo:

- Cô làm ơn đẩy chiếc nôi đến gần đây giùm tôi.

Cô y tá “dạ”, và Mạ ngẩng đầu lên khi chiếc nôi được kéo đến bên giường. Mạ vén mùng nhìn vào. Con của Mạ đây! – Con trai – Ôi con của Mạ mập mạp trắng trẻo quá! Con của Mạ thở thật đều và lâu lâu “mụ dạy” con của Mạ lại mấp máy đôi môi nhoẻn cười, hai bàn tay giơ lên quơ trong không khí.

Mạ bỗng nghe thân Mạ nhẹ đi, cơn mệt mỏi biến đâu mất, Mạ chỉ còn một niềm vui mênh mông.

Tiếng ríu rít của các con vang lên ở cửa phòng. Bầy con của Mạ ùa vào. Chúng đứng trước nôi, reo lên:

- A! Em bé! Mạ sanh thằng cu dễ thương quá!

- Suỵt! Im cho em bé ngủ, tụi bây!

Lũ trẻ xì xào bên tai nhau. Trong khi Mỵ lục cặp tìm bài thơ mới được đăng báo để khoe Mạ, chị Thúy và cu Tiến đến bên giường. Mạ vuốt tóc cu Tiến, và hỏi chị Thúy:

- Cu Tiến ngủ với chị có đòi Mạ không?

- Dạ không, em ngoan ghê lắm Mạ!

Mỵ cầm tờ báo có đăng bài thơ viết cho Mạ, đem đến tính đọc Mạ nghe, nhưng nhìn thấy vẻ xanh xao của Mạ, Mỵ hỏi:

- Mạ có mệt không Mạ?

Mạ đưa mắt nhìn qua chiếc nôi – trong đó, con của Mạ đang ngủ say giữa tiếng bàn tán của anh chị nó – rồi Mạ cười:

- Mạ không thấy mệt tí nào cả…

 

alt

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Bán nguyệt san Tuổi Hoa số 94, ra ngày 15-8-1968

Chân thành cám ơn Đèn Biển đã đánh máy lại bài này. Cam Li NTMT.