Những bài mới nhất

 

alt

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

 

1

Bé Di có thói quen dậy rất sớm. Dậy sớm nhất nhà, vâng, lạ quá chăng? Thường với mỗi gia đình, người dậy sớm nhất là người mẹ, hoặc một người già ngủ ít, nhưng với nhà này thì khác hẳn. Bởi vậy Bé Di được mọi người gọi là “ông cụ non”. Lại một điều tức cười nữa: “ông cụ non”, vâng, không phải “bà cụ non”.

Là bởi vì cô bé thâm trầm lắm, không nói nhiều. Dậy sớm, nhẹ nhàng quét nhà, rồi nếu là ngày thường thì mở vở ra học bài, làm bài; nếu là chủ nhật thì cô bé đọc sách. “Ông cụ non” chỉ còn thiếu một tách trà, nhưng lại có thêm biệt hiệu “con mọt sách”. Bé Di chỉ mới học lớp Một!!!

Hôm nay lại là một ngày khá đặc biệt: mồng Năm Tết. Sắp phải đi học rồi! Sau mấy ngày nghỉ Tết các cô cậu học trò ngao ngán chẳng muốn nghĩ đến ngày phải vào trường lại. Bé Di  thì “ngộ” lắm, dù có đi học hay không thì Bé vẫn trung thành với mấy quyển sách. Nhưng giá mà được nghỉ thêm thì thích hơn, không phải đến trường, không phải làm bài, học bài, Bé sẽ có nhiều thời gian hơn để đọc sách.

Cả nhà gọi Bé Di là “thần đồng đọc sách”. Ai có thể tưởng tượng được mới học giữa năm lớp Một mà Bé Di đã đọc các bài tập đọc một cách trôi chảy, viết chính tả không sai chữ nào. Cô giáo cũng khen lắm, luôn dành tặng quà thưởng cho Bé những cuốn truyện tranh. Ồ, nói là truyện tranh chứ cũng đầy cả chữ. Bé Di thích nhất là những câu nói của nhân vật trong truyện, được đóng trong một cái vòng tròn hay vòng bầu dục, có đưa một tam giác hoặc những vòng tròn to nhỏ như bong bóng vào ngay miệng nhân vật, cứ như là chữ đang thoát ra từ miệng của họ vậy. Ai nghĩ ra mấy cái truyện tranh cũng hay thật!

Nhưng có một điều Bé Di không nói cho mọi người biết đâu! Đó là ngoài mấy cuốn truyện tranh, Bé Di còn thích coi truyện chữ nữa. Chẳng là vì khi cô giáo cho viết chính tả, giọng đọc của cô hay quá, lên bổng xuống trầm, Bé Di nhắm mắt lại cũng tưởng tượng ra được cái cảnh mà cô giáo đang tả. Dù không thể diễn tả như cô giáo, nhưng Bé Di cũng nghĩ được rằng ngôn ngữ thật là tuyệt vời, có thể thay thế được cây cọ vẽ. Và giọng đọc, giọng nói cũng vậy, cũng có thể ru hồn người ta hoặc làm cho người ta bừng tỉnh.

Mấy cuốn truyện tranh, Bé Di bày ngay ngắn trên bàn học. Còn truyện chữ, không ai thấy đâu cả. Đó là những cuốn bán nguyệt san Tuổi Hoa, và cả những cuốn truyện dài của Tuổi Hoa phát hành. Chúng nằm cả trong tủ sách của chị Hai.

 

2

Rón rén, Bé Di mở tủ sách của chị Hai. May quá, chị đã không khóa! Bé lấy một cuốn truyện “hoa tím”, loại sách đối với Bé là khá dày, tới hơn một trăm trang lận. Hôm qua Bé đã làm dấu bằng một mảnh giấy nhỏ xíu cho trang sách Bé đang đọc dở dang. Bé mỉm cười, nhè nhẹ ngồi lên ghế, giở ra. Nụ cười của Bé càng vui hơn nữa, khi Bé tìm thấy mình trong đó. Đúng ra thì nhân vật chính “về phía con nít” trong truyện là một anh nhóc. Vâng, Bé phải gọi là “anh nhóc” vì anh ấy đang học lớp Năm, bằng lớp với chị Ba bây giờ. Bé Di tưởng tượng ra cảnh mấy nhân vật con trai đó đang chơi với nhau các trò chơi bắn bi, đánh đáo, và lại còn làm lồng đèn nhân dịp Tết Trung Thu nữa. Còn các bạn con gái, không hề thấy tác giả nói đến. Nhưng có một đoạn mà Bé cũng thích lắm, đó là đoạn ngày mồng Năm Tết, các anh nhóc ấy nhắc lại chuyện trong lịch sử: Vua Quang Trung đại phá quân Thanh. Lời lẽ giản dị, dễ hiểu, Bé Di chưa học Việt Sử nhưng cũng hiểu liền. Bé chăm chú ngồi đọc tiếp, không biết bên ngoài trời đang sáng dần…

-         Bé Di! Làm gì đó con? Hôm nay chưa đi học mà!

Tiếng của Má nhỏ nhẹ nhưng cũng làm Bé Di giật mình. Bé nhanh tay gấp cuốn sách lại. Nhưng Má đã thấy. Má bước đến nhìn vào bìa sách, lẩm bẩm đọc tên truyện rồi nói:

-         Bé Di dậy sớm không phải để học bài?

Bé Di lúng túng lắc đầu:

-         Dạ … không, ơ…hôm nay… còn nghỉ Tết mà Má!

-         Má biết, nhưng tại sao con cứ lấy sách truyện của chị Hai đọc hoài vậy?

-         Hay mà Má!

-         Con hiểu cái gì trong đó mà nói hay?

-         Con… con mới đọc nửa cuốn nhưng con thấy hay. Con hiểu được.

-         Dù hiểu nhưng con không được lấy sách của chị.

-         Dạ.

Bé Di toan đi đến tủ để trả cuốn sách lại chỗ cũ, thì cả nhà đã thức dậy hết cả. Bé Di bối rối như người phạm tội. Ba hỏi:

-         Chuyện gì vậy hai mẹ con?

Má nói:

-         Bé Di coi sách truyện của chị Hai.

Chị Hai còn ngái ngủ chạy tới, lấy cuốn sách trăn qua trở lại xem, và nói:

-         Bé Di có làm rách sách của chị không?

-         Không, không có.

Chị Ba nói chen vào:

-         Cuốn này thì chưa rách, mấy cuốn khác rách rồi!

Bé Di lặng thinh. Chẳng là lần nào chị Ba thấy Bé Di xem sách thì chị Ba cũng giành lấy, bởi chị Ba cũng thích xem sách và rất quý sách, sợ sách chị Hai mua bị rách thì uổng lắm. Vậy rồi có nhiều lần chị Ba và Bé Di giằng sách qua lại, sách bị rách bìa hoặc rách trang trong. Thế là cả hai đều bị chị Hai mắng cho. Bao nhiêu sách truyện chị Hai có được là do chị Hai nhịn tiền quà, để dành mua báo, mua truyện, chứ đâu phải dễ dàng gì mà có! Nhiều khi “chiến trận âm thầm” diễn ra giữa mấy chị em, Ba Má đâu có biết.

Bé Di hơi phụng phịu, thấy trước là mình thua chắc. “Phe kia” sẽ gồm có Ba, Má, chị Hai, chị Ba, và có thể thêm cu Bon nữa. Trời ơi! Bé phải làm sao đây? Thôi thì… im lặng nhận lỗi cho xong.

Ba nói với giọng nghiêm nghị:

-         Đã nói truyện “hoa tím” là dành cho người lớn. Bé Di mới học lớp Một, dù con đọc hiểu chữ nhưng Ba nghĩ không hợp với con đâu!

Chị Hai đính chính:

-         Ba ơi, cũng không phải hoàn toàn người lớn đâu! Nếu là dành cho người lớn, thì chính con cũng không được đọc, vì con mới mười bốn tuổi thôi.

Chị Ba thì nín khe, môi dưới hơi trề ra như ngầm nói “Con cũng không được đọc”, vì chị Ba chỉ mới lên mười!

Má nói như để giải thích cho Ba:

-         Truyện “hoa tím” là dành cho tuổi mới lớn cho đến… người lớn.

Ba nói:

-         Vậy chỉ có chị Hai là được đọc. Tuổi mới lớn là phải mười ba trở lên. Mà… Ba không hiểu tại sao bao nhiêu sách không đọc, Bé Di cứ đi lấy sách của mấy chị làm gì?

Bé Di nói lí nhí:

-         Tại vì… con hiểu và thích mà Ba!

-         Đâu Bé Di thử đọc cho Ba nghe chỗ nào con cho là hợp với trẻ con và con hiểu rồi con thích.

Thấy nét mặt Ba có vẻ lạnh lùng, mấy chị em chột dạ. Nhưng bỗng Bé Di mở ra trang mà Bé đang xem, và cất tiếng đọc lớn:

“- Mồng Năm Tết, vua Quang Trung đem mười vạn quân ra Bắc, liên tiếp chiếm Hà Hồi, Ngọc Hồi, Đống Đa, rồi kéo vào Thăng Long.
Đỗ xoa đầu Thụy, nói:
- Thụy giỏi quá! Nhưng anh không giỏi bằng vua Quang Trung mô!
Thụy nói:
- Anh oai chứ!...” (*)

Bé ngừng lại, đưa mắt nhìn Ba Má rồi nhìn các chị. Ba Má nhìn nhau. Chị Hai nhìn chị Ba. Bé Di đứng một mình như tội nhân đang tự bào chữa trước tòa. Giá mà có Cu Bon nhỉ! Thằng nhóc còn đang ngủ say sưa. Nhưng nếu có nó, nó cũng chẳng hiểu gì để mà có thể “về phe” với Bé.

Nhưng rồi, chị Ba thốt lên:

-         Đoạn này tác giả kể giống như trong bài Việt Sử cô giáo dạy ở lớp con đó Ba!

Bé Di tròn mắt nhìn chị Ba, rồi Bé nói với giọng sung sướng:

-         Ba ơi! Hôm nay mồng năm Tết Ba à!

Đôi mắt Ba bỗng như có một tia sáng chiếu qua. Ba trầm giọng nói:

-         Được rồi! Ba hiểu rồi! Ba thua mấy đứa con gái này rồi!

Má cười xòa:

-         Nghe Ba nói thấy tội nghiệp chưa! Nhưng mà Má thì muốn rằng Bé Hai phải chọn sách cho các em đọc, hướng dẫn cho các em. Má sợ sách báo dành cho người lớn ảnh hưởng không tốt cho trẻ con.

Chị Ba chưa chịu, nói ráng:

-         Không Má ơi, có khi không đọc sách người lớn thì có những chữ mình không hiểu, vì sách nhi đồng không có nói đến.

Má hết hồn, hỏi nhanh:

-         Bé Ba nói gì? Con muốn biết những chữ gì… của người lớn?

-         Dạ, Má không nhớ sao, hồi đầu năm cô giáo chọn con đi dự thi Viết Văn, con đã không hiểu nghĩa chữ “ủy lạo”, vì chữ này chỉ có trong sách báo người lớn đọc. Còn con đọc sách con nít chưa bao giờ gặp chữ này.

Chị Hai tiếp lời:

-         Phải rồi đó Má! Tội nghiệp Bé Ba, em kể em dòm cái đề “Em hãy kể lại một buổi đi ủy lạo đồng bào bị hỏa hoạn” mà ngơ ngác. Chữ “hỏa hoạn” thì em biết, nhưng chữ “ủy lạo” thì … em bí.

Cả nhà cười vang. Ba nói:

-         Ừ, tội nghiệp Bé Ba thiệt! Người ra đề dùng chữ Hán Việt làm khổ con nít. Vậy mà con nhỏ cũng lanh, không hiểu “ủy lạo” là gì nhưng đoán mò rồi cũng tả được những việc làm khi gặp đồng bào bị hỏa hoạn, và cũng được giải khuyến khích.

Bầu không khí như giãn ra, mọi người vui vẻ. Ba xoa đầu Bé Di, nói:

-         Còn cái con bé này, chắc đến khổ vì chữ nghĩa. Mê đọc sách gì mà mê dữ vậy!

Chị Hai nói:

-         Em là “thần đồng đọc sách” mà Ba!

Bé Di im lặng. Bé không nghĩ mình là “thần đồng đọc sách”. Bạn nhỏ nào chịu khó học vần, viết chữ lúc cuối lớp mẫu giáo, lên lớp Một đều có thể làm được như Bé, có khó gì đâu! Còn ham chơi như Cu Tèo ở nhà bên cạnh, học đến lớp Bốn rồi mà vẫn cứ viết sai những chữ “ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, khuếch trương”, bị ba nó đánh đòn hoài, khóc toáng cả lên.

 

3

Khi Ba Má đã đi vào nhà trong, chị Hai kéo chị Ba và Bé Di lại, thì thầm:

-         Có những đoạn cũng rất là … người lớn, truyện “hoa tím” mà, Bé Di đọc có hiểu không?

Bé Di nói chắc như bắp:

-         Dạ hiểu.

Chị Ba nguýt dài:

-         Hiểu sao được mà hiểu?

-         Thì… Ba Má nói chuyện với nhau, Bé nghe cũng hiểu được mà!

-         Chuyện gì?

-         Thì thí dụ Ba bảo Má coi cuối tuần đưa tụi mình đi chơi ở đâu. Nghe là hiểu liền.

Hai chị cười với nhau. Chị Hai ra vẻ mình đã là người lớn, gật gù nói:

-         Ừ, thôi cũng được. Bây giờ Bé hiểu theo kiểu con nít. Lớn lên, đọc lại những cuốn sách này, Bé lại hiểu theo cách của người lớn.

-         Dạ.

-         Nhưng mà chị Hai có một yêu cầu: Muốn đọc sách phải xin phép chị Hai, không được tự tiện lấy, cũng không được giành nhau làm rách sách.

-         Dạ.

Bé Di trầm ngâm suy nghĩ.  Khi Bé lớn lên, mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm sau, Bé giở lại những trang sách này, đọc lại, thì ý nghĩ của Bé sẽ khác bây giờ ra sao nhỉ? Thật khó nghĩ quá!

Bé chợt nhớ ra một điều, Bé nói vói theo chị Ba lúc đó đang đi vào trong:

-         Chị Ba học xong sách Việt Sử cũng nhớ để dành cho Bé với nhé! Bé thích đọc chuyện Vua Quang Trung.

-         Ừ, là cái chắc rồi! Nhưng Bé Di phải giữ cho sạch sẽ, không được làm rách. Sách Việt Sử quý lắm đó!

Có tiếng Cu Bon lè nhè bên cạnh:

-         Bé Di, cho Cu Bon coi sách với!

Ồ, lại một “con mọt sách”! Bé Di quay lại nói với Cu Bon:

- Nè, Cu Bon thì coi sách này nè! Truyện tranh “Tin Tin”. Coi này, cái thằng Tin Tin có chỏm tóc ngoắc lên giống tóc Cu Bon ghê chưa?

Thằng bé bốn tuổi, chưa biết đọc cho nên rất thích thú với những cuốn truyện tranh của Bé Di. Bé Di ra vẻ “người lớn”, nghiêm trang nói với Cu Bon:

-         Lớn lên, em không được giành sách với chị đó nghen!

 

31/01/2012

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

tuoihoa.hatnang.com

 

(*): Trích Chương 3 “Người khắc bia mộ”, Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh, Tủ Sách Tuổi Hoa

 

 

 

 

1

     Buổi sáng người đó lại đi vào xóm. Một sự viếng thăm tầm thường như vậy, nhưng lại rộn ràng hơn cả sự viếng thăm của một ông bộ trưởng. Có cả tiếng kèn tây nổi lên bài “Ly rượu mừng” và sau đó hàng trăm cặp mắt đều đổ dồn ra từ các khung cửa để dòm người khách lạ nhưng quen. Và cuối cùng, một bầy trẻ nhỏ, trước thì chỉ vài ba đứa, sau đông đảo dần, kéo nhau đi theo bước chân của người. Chúng nó líu lo hát theo bài nhạc đang được thổi kèn tây, bài “Ly rượu mừng” quen quá, ai cũng biết cả. Và tiếng kèn đó đang được người khách thổi với điệu bộ rất vui tươi. Chỉ bằng điệu bộ thôi, người ta nhìn vào và đoán là ông ta đang vui. Và tiếng kèn, nghe cũng hân hoan nữa. Thế thôi. Còn sau cặp kính đen ngòm kia, chẳng ai thấy được gì. Ông ta đã mất đi phương tiện thông thường và cao quý‎ nhất để diễn tả niềm vui: đôi mắt. Cả xóm này quen gọi ông ta là “ông già mù thổi kèn tây”- thật giản dị. Chẳng mấy ai thắc mắc ông ta từ đâu đến, người ra sao, và cũng không ai hỏi ai rằng vì sao mà ông ta biết quá nhiều bản nhạc để thổi kèn như thế. Mỗi lần đi vào xóm là ông ta thổi một bài mới. Chỉ biết rằng người dân lao động thật dễ dãi, nghe xong bài “Ly rượu mừng” bèn bỏ vào chiếc lon đeo trước ngực ông ta những đồng tiền kẽm.

 

alt

     Chỉ riêng thằng Quốc là không gọi ông ta bằng cái tên “ông già mù thổi kèn tây”. Vì trước đó đã có lần nó đến gần ông ta và nhận thấy rằng ông ta chưa già. Thật đơn giản. Nó cũng không gọi cây kèn tây, vì có khi nó cũng nghe ông ta thổi những bài dân ca nữa. Trong đầu thằng Quốc, thật sự chưa có danh hiệu nào để gọi người ấy cả. Nó cũng không muốn nghĩ đến người ấy như một kẻ hành khất. Người ấy không bao giờ mở miệng xin bố thí. Thằng Quốc biết rằng, kẻ xin ăn là một kẻ không làm việc gì cả, nhưng nhận ở người khác tiền bạc và thức ăn để sống. Nó hiểu một cách sơ sài như thế, theo định nghĩa của nó, nhưng đủ để phân biệt người thổi kèn này với một người ăn xin. Vì ông ta đã kiếm được tiền nhờ những bài nhạc. Đi từ đầu xóm đến cuối xóm, ông ta đã trỗi ít nhất ba khúc nhạc. Và những người nghe – những thính giả dễ tính của xóm lao động - cũng đâu có khác gì những người giàu sang bỏ tiền đến phòng trà để nghe ca sĩ hát.

Sự so sánh ngộ nghĩnh ấy làm cho thằng Quốc có ý‎ nghĩ ông khách này là một người nghệ sĩ. Phải gọi ông ta như thế dù ông không bao giờ xuất hiện trên sân khấu hay trên máy “ti-vi”. Thằng Quốc thích chạy theo ông ta để nhìn thật kỹ những ngón tay ông ta bấm trên thân cây kèn để “làm ra những nốt nhạc”. Và nó cũng khoái nhìn ông ta phùng to hai má để thổi ra những âm thanh. Hôm nay ông thổi bài “Ly rượu mừng” chán rồi thổi bài “Đón xuân”. Thằng Quốc ghét mấy bài nhạc mừng xuân lắm, nhưng nó vẫn chạy theo ông ta vì một sự thân mến nào đó có sẵn từ lâu. Nó cũng không trách ông ta được vì hôm nay là mồng năm Tết. Đối với người lao động của xóm nó, Tết chỉ có hai ngày thôi. Đến mồng ba là má nó đã thức sớm để đi bán trở lại. Nhưng với tụi trẻ con thì Tết có nghĩa là những ngày mà chúng còn được ở nhà, được ngủ đến chín mười giờ sáng và còn được chạy rong từ đầu trên đến xóm dưới để chơi bầu cua và đốt những cây pháo lẻ. Vì vậy đến mồng năm vẫn còn là Tết, đến mồng sáu mồng bảy vẫn còn là Tết. Người nghệ sĩ này có lẽ cũng biết như vậy. Và thằng Quốc bật cười khi nghĩ rằng ngày trước có lẽ ông ta cũng được nghỉ Tết đến mồng tám mồng chín mới đi học.

     Lúc thằng Quốc cười, là đúng ngay lúc người ấy dứt tiếng bài “Đón xuân”. Vì đứng nghiêng nên nó thấy dường như đôi mắt của ông ta nhướng lên sau cặp kính. Dường như ông ta có ý‎ hỏi “Ai cười thế?”, nhưng ông không nói gì cả. Mà một thằng bé trong đám trẻ con đông đảo ấy lên tiếng:

- Đứa nào cười vậy?

Và một đứa đáp:

- Thằng cu Quốc.

Rồi một đứa nữa:

- Thằng con ông Thượng sĩ Hạc.

     Đám trẻ con bỗng xôn xao lên, vì thằng Quốc quả thật đang “nổi sùng”. Nghe động đến tên ba nó, nó đỏ mặt lên, và tìm cho được đứa nào đã dám hỗn hào như vậy. Nó túm lấy cổ áo thằng bé kia, hầm hừ:

- Ai cho mày thèo lẻo, hở mày?

Thằng bé kia toét miệng ra cười, đưa cả hàm răng sún nham nhở ra. Thằng Quốc bực mình, trả đũa:

- Còn mày, mày là con của…

     Nó im bặt, rồi tự nhiên buông thằng bé ra. Đám trẻ chờ đợi xem một màn ẩu đả, bỗng chưng hửng vì thấy thằng Quốc xìu mặt xuống. Hầu hết trong xóm này, đứa nào cũng muốn cho thằng bé kia bị đánh. Nhưng thằng Quốc thì không. Dù sao thằng bé đó cũng nhỏ con hơn nó, thua thiệt hơn nó và hay bị hiếp đáp. Quốc không muốn nói tiếp “Mày là con của ông hút” vì nó sợ thằng bé sẽ khóc. Thằng bé láu cá thế nhưng lại hay nhè. Nếu danh hiệu “thằng con ông Thượng sĩ Hạc” làm cho Quốc hãnh diện thì tiếng “con của ông hút” lại khiến cho thằng bé nọ xấu hổ. Thôi, chẳng nên mỉa mai thằng bé làm gì. Quốc nghĩ thế rồi làm thinh luôn.

2

     Buổi trưa người thổi kèn ngồi trên thềm nhà của thằng Quốc, lặng lẽ đếm tiền lấy ra từ chiếc lon đeo trước ngực và cất hết vào túi. Mọi lần, ông ta chỉ vào xóm nó như một người đưa thư, thổi mấy bài kèn và đi khỏi. Lần này ông lại ngồi nghỉ ở đây. Một dịp tốt để cho Quốc đến gần. Buổi trưa, khi bọn trẻ con tò mò và lười biếng đã về nhà ăn cơm, Quốc se sẽ đến gần ông ấy. Bây giờ nó mới nhìn kỹ hơn gương mặt của người, và nó giật mình. Chưa có ai giống ba nó như vậy. Từ hai năm nay rồi, thằng Quốc tưởng như hình ảnh ba nó đã phai mờ trong trí nhớ ngây thơ, nay bỗng nghe như ba nó sống lại, thật mạnh mẽ, thật linh hoạt, gấp trăm ngàn lần bức hình thờ trên chiếc tủ cao để trong góc nhà quạnh quẽ. Nó đứng sững nhìn người thổi kèn. Người này có lẽ lớn tuổi hơn ba nó nhiều lắm. Nước da sạm đen hơn và nét mặt cứng cỏi hơn. Và cuộc đời của ông ấy, có bi hùng như cuộc đời của ba nó không? Sau đôi mắt kính đen kia, có những nỗi niềm gì? Thằng Quốc bỗng thấy hơi se lòng. Nó muốn tỏ một cử chỉ thân ái, nhưng nó biết rằng sẽ vô ích vì ông ấy không thấy gì đâu. Nó ấp úng gợi chuyện:

- Bác ơi!... Sao bác không về nhà?

Người thổi kèn hơi xoay đầu để định hướng tiếng nói, và ông mỉm cười:

- Bác không có nhà.
- Bác ở đâu?
- Bác ở khắp nơi.

Người thổi kèn sửa lại gọng kính và hỏi:

- Trưa rồi, cháu không ngủ sao?

     Thằng Quốc trố mắt nhìn. Ông ta biết đã đến trưa? Nó tự hỏi như thế và tự chế nhạo mình. Nếu đêm đến người ta ngủ và biết bao giờ là sáng để thức dậy, thì người nghệ sĩ sống trong sự tối tăm kia cũng biết bao giờ là trưa để tạm ngưng lao động vậy chứ. Thằng Quốc lắc đầu:

- Cháu không ngủ trưa. Bác đã ăn gì chưa?
- Có. Bác ăn bánh mì rồi. Nhà cháu… ở đâu?
- Cháu ở trong nhà này.

Người thổi kèn như muốn nhớm đứng dậy, nói:

- Bác ngồi đây, có phiền ba má cháu không?
- Má cháu đi bán ở ngoài chợ, chiều mới về. Còn ba cháu…

Người kia lại ngồi yên, chờ nghe tiếp câu nói. Thằng Quốc cúi đầu, giọng nhỏ lại:

- Ba cháu chết rồi bác ơi.

Có một lúc yên lặng trải qua. Thằng Quốc ngồi xuống bên người thổi kèn. Nó nhìn “cây kèn tây” vàng óng ánh đặt bên cạnh ông ta, bất chợt nó đưa tay sờ nhẹ vào cây kèn. Hơi đồng lạnh ngắt. Nó nghe tiếng người thổi kèn hỏi nhẹ như gió:

- Ba cháu còn trẻ hay đã già?
- Ba cháu còn trẻ, bác. Ba cháu chết trận năm kia.

     Người thổi kèn bỗng gỡ cặp kính ra. Thằng Quốc thấy rõ một đôi mắt – không còn là một đôi mắt, mà chỉ là hai hố sâu được che lại bằng những vết sẹo nhăn. Thằng bé bàng hoàng. Gương mặt của người thổi kèn hết giống ba nó. Ba nó có một đôi mắt rất tinh anh và chan chứa yêu thương. Đôi mắt đó đã nhắm lại và yên ngủ đời đời. Nhưng nó không cảm thấy sợ sệt người đàn ông kia. Ông có một vẻ gì như là qu‎ý mến nó. Một cử chỉ ái ngại nào đó hình như đang biểu lộ trên gương mặt đã mất mát quá nhiều.

 

 

- Phải cháu là… “thằng con ông Thượng sĩ Hạc” hồi sáng không?
- Sao bác biết?
- Bác nghe giọng cháu nói, quen quen. Người ta gọi cháu như vậy luôn?

Thằng Quốc cúi đầu, nói giọng không buồn không vui:

- Hồi ba cháu còn sống, mấy người quen thân kêu cháu như vậy. Hồi ba cháu mất, cả xóm đều kêu cháu như vậy. Cháu không biết họ thương hay ghét cháu.

Người thổi kèn mỉm cười:

- Họ thương cháu đấy!
- Sao bác biết?
- Ba cháu có làm điều gì xấu không?

Thằng Quốc ngẩng lên, nói mau:

- Không. Ba cháu hiền lành lắm. Ba cháu đi lính. Ba cháu chết trận.

Người thổi kèn nói như vỗ về:

- Vậy thì là họ thương cháu. Họ nhắc đến tên ba cháu là họ thương ba cháu. Cháu phải hãnh diện khi nghe gọi như vậy.

     Thằng Quốc cảm thấy thỏa mãn. Nó bỗng nghĩ đến biệt hiệu “thằng con của ông hút” và tội nghiệp thằng bé suý‎t gây lộn với nó hồi sáng. Nhà nó ở cuối xóm, và chỉ là một ổ chuột hẹp và tối. Ba nó hút thuốc phiện. Mẹ nó cũng hút. Mẹ nó chết trước ba nó, vì thuốc. Chẳng một ai trong xóm lấy đó làm lạ. Hình như cũng chẳng ai thương xót. Mẹ nó chết giữa khuya và mấy cha con nó đã phải ngủ chung với cái xác chết cho đến sáng, vì căn nhà ổ chuột chỉ vừa đủ đặt một cái giường – một điều khủng khiếp đối với thằng Quốc - nhưng với những người trong nhà ông hút thì đó là sự dĩ nhiên. Ngày hôm sau, một chiếc hòm gỗ được khiêng vào và khiêng ra khỏi xóm ngay. Đám ma giản dị và mau lẹ không ngờ. Từ đó chỉ còn lại ông hút. Ông hút tiếp tục hút và mấy đứa con tiếp tục sống khổ sở, tiếp tục đi xin cơm của hàng xóm và tiếp tục bị bọn trẻ hiếp đáp. Đời sống của cái gia đình thảm hại đó chỉ có thế mà thôi. Đôi khi thằng Quốc tẩn mẩn nghĩ rằng nếu rủi nó phải là con của ông hút thì sao nhỉ? Chắc nó sẽ khổ sở và tủi nhục lắm. Ông hút còn sống sờ sờ đó nhưng chẳng làm được việc gì với cái hình hài như xác ve. Lũ con có cha cũng như không. Cha nó không nuôi được chúng nó và cũng không có một chút gì để cho chúng nó lấy làm hãnh diện. Người thổi kèn nói đúng, thằng Quốc phải sung sướng với cái tên “thằng con ông Thượng sĩ Hạc”, một ông Hạc đã chết, và con của ông ấy có quyền hãnh diện.

3

     Buổi chiều thằng Quốc phải ra dọn hàng cho mẹ nó ngoài chợ. Người thổi kèn tiếp tục dạo trong xóm để thổi những khúc ca xuân. Nhưng ông hứa là sẽ đợi thằng Quốc về để thổi cho nó nghe những bài nhạc thúc quân – một điều mới lạ mà thằng Quốc được biết trưa nay. Người thổi kèn chưa bao giờ thổi loại nhạc đó cả. Và thằng Quốc biết thêm rằng người chẳng phải chỉ là người nghệ sĩ lãng du suốt bốn mùa, mà đã có lần người ra đi giống như ba nó. Đã có lần người tạm quên thú vui chơi. Và đôi mắt – đôi mắt thảm thương của người, là dấu tích của một cuộc đời xông pha. Trưa nay người đã kể chuyện cho thằng Quốc nghe như người cha kể chuyện cho một đứa con. Người chưa có một đứa con để cho nó hãnh diện. Chưa có đứa con nào nghe người thổi những bản nhạc hùng hồn. Thằng Quốc sẽ là đứa đầu tiên.

     Thu dọn hàng xén cho mẹ xong, thằng Quốc lén chạy đi xem khắp chợ. Chợ mồng năm chưa đông đủ, lại là buổi chiều nên vắng như những ngày đầu Tết. Thằng Quốc dừng lại trước hàng đồ chơi con nít. Chỉ có hàng này là hoạt động suốt năm. Thằng Quốc không mê những món xe, ngựa, súng, pháo… nhưng lần này nó phải dán mắt vào hàng. Nó nhìn không chớp mắt một cây kèn đồng. Cây kèn nhỏ vừa tay của nó quá! Tự nhiên nó nghĩ đến người mù thổi kèn trong xóm. Nếu ông ấy dạy cho nó một bài nhạc thúc quân… a, thích thú làm sao! Nó sẽ tập thổi thật rành, đến ngày giỗ ba nó, nó sẽ thổi lên trước bàn thờ của ba nó. Tiếng nhạc sẽ quyện vào ánh sáng của hai ngọn nến trắng, lan ra cùng với khói hương. Ba nó sẽ “nghe” và hài lòng. Mẹ nó sẽ lắng nghe và sẽ khóc. A, nếu mà nó có được một cây kèn…

- Đi chỗ khác chơi, nhỏ!

     Người bán hàng đồ chơi quát bên tai thằng Quốc làm nó giật mình. Có một ánh mắt dường như khinh thị nhìn nó. Nó lùi lại vài bước và bỗng cảm thấy xấu hổ. Trong túi nó không có lấy một đồng, nó không có quyền hỏi giá cây kèn – và nếu biết giá, cũng chưa chắc nó đã mua được. Nhưng màu đồng sáng quắc vẫn hấp dẫn nó quá. Nó đánh liều, hỏi:

- Ông cho cháu coi cây kèn đồng.

Người bán hàng xoa cái bụng úc núc, nhìn nó xoi mói:

- Có tiền không?
- Dạ… cháu có.

Người kia cười khẩy và đưa chiếc kèn ra. Thằng Quốc cầm lên ngắm nghía. Nó nuốt nước bọt và toan đưa lên miệng…

- Ấy ấy! Đừng thổi…

Người bán hàng la lên và giật cây kèn lại. Giọng nói của ông ta ra vẻ khinh thị hơn:

- Mua không? Ba trăm đồng.

Thằng Quốc ngần ngại lắc đầu, nghe nóng bừng cả mặt mày. Cây kèn được trả về chỗ cũ. Thằng Quốc quay đi và gặp ngay thằng con của ông hút đứng bên cạnh. Thằng bé chạy theo, hỏi:

- Ê Quốc, mày thích cây kèn đó hả?

Thằng Quốc đi nhanh hơn, trả lời:

- Ừ. Nhưng mà tao không có tiền mua đâu. Thôi, tao về hàng của má tao.

Thằng bé vẫn nói bên tai Quốc:

- Tao cũng thích cây kèn đó nữa. Bữa ba mươi Tết, tao suýt…
- Mày suýt gì?
- Sém tí nữa tao “chộp” được cây kèn. Tại ông già đó tinh mắt quá thấy kịp…

Thằng Quốc cau mày:

- Ổng có bắt mày không?
- Tao chạy. Chắc hôm nay ổng quên mặt tao rồi.
- Mày ghê quá! Đừng có ăn cắp chứ!

Thằng bé nọ bĩu môi:

- Ai có tiền thì mua mà chơi. Ai không có tiền thì đi ăn cắp.
- Ai dạy mày như vậy?
- Tao biết vậy.

     Thằng Quốc đứng lại, nhìn kỹ thằng bé. Nó nhận ra rằng cả hai đứa nó đều xoan xoan bằng nhau. Chưa có đứa nào quá mười tuổi. Nhưng thằng bé này khôn ranh chẳng ai ngờ. Nó có nhiều ý tưởng kỳ khôi quá. Cả trên gương mặt non nớt kia dường như cũng có sắp đặt nhiều mưu kế. Thằng Quốc nói buồn buồn:

- Tao không tiền nhưng tao không nghĩ chuyện ăn cắp.
- Xạo! Mày ngu quá! Ai dạy mày vậy?

Tới lượt thằng bé này hỏi lại. Thằng Quốc quay mặt đi, nói một câu mà nó biết là rất sáo:

- Ba tao dạy, má tao dạy là phải sống trong sạch.

Thằng con ông hút cười khinh khích và bỏ đi. Quốc lang thang một mình trên hè chợ. Chợ vắng tanh. Tự nhiên lòng Quốc buồn một cách kỳ lạ.

      Khi nó sắp trở về hàng của mẹ nó, bỗng nghe phía hàng đồ chơi có nhiều tiếng xôn xao. Thằng Quốc nghĩ ngay đến thằng bé ban nãy. Nó đoán không lầm. Đến gần thấy người bán hàng đồ chơi đang nhớn nhác nói lắp bắp:

- Tôi mới quay qua quay lại đã thấy nó chộp cây kèn đồng chạy mất. Nó… chạy ngõ kia kìa… Ai bắt lại giùm! Ối giời!... Mới đầu năm đã lỗ mấy trăm bạc. Rõ chán mớ đời…

      Ông ta ngồi phịch xuống chiếc ghế đẩu, xoa xoa cái bụng tròn, ra dáng mệt mỏi. Đôi mắt ông ta bỗng dừng lại ở thằng Quốc. Thằng bé hoảng hồn lùi lại. Nó tưởng nó sắp bị tội thế cho thằng ăn cắp. Người bán hàng hầm hừ:

- Phước cho cái thằng ranh này. May là tao nhìn rõ mặt thằng kia, chứ không thì… khốn đó con!...

4

     Buổi tối thằng Quốc gặp lại người nghệ sĩ ở cuối xóm. Ông đã chờ nó để thổi kèn cho nó nghe. Nó dẫn ông về trước sân nhà. Mẹ nó đang gọt những củ cải để làm dưa món ăn Tết muộn. Bà không lạ người thổi kèn đặc biệt này. Nhưng bà hơi ngạc nhiên vì thấy ông ta đi với thằng Quốc. Hai người ngồi xuống thềm nhà. Người nghệ sĩ bắt đầu thổi bản nhạc. Đó là bài tập họp lính. Thằng Quốc khoái chí vỗ tay thật lớn. Dường như mẹ nó cũng vui lây. Người nghệ sĩ sửa lại cặp kính đen trên đôi mắt, hỏi nó:

- Hết bài rồi. Cháu muốn nghe bài gì nữa?

     Thằng Quốc cắn môi ngẫm nghĩ. Nó bỗng nhớ ra bài hát gì nghe mang máng như “mờ trong bóng chiều một đoàn quân thấp thoáng…”. Nó hát câu đầu lên cho người ấy nghe. Ông ta nói:

- À! Để bác thổi bài “Chiến sĩ vô danh” nhé!
- Đúng rồi bác! Bài “Chiến sĩ vô danh” đó!

     Cây kèn đồng sáng lên kỳ lạ. Người nghệ sĩ làm không gian cô đọng lại bằng bản nhạc u buồn. Thằng Quốc nghe se sắt lòng. Trên sân nhà cô quạnh người góa phụ cũng dừng tay, lắng nghe. Khi bài nhạc dứt, thằng Quốc thấy mẹ nó đưa tay gạt nước mắt và bà bỏ đi vào nhà. Nó im lặng ngồi bên người nghệ sĩ. Ông hỏi khẽ:

- Cháu làm gì đó? Bác chẳng thấy gì cả.

     Tự nhiên thằng Quốc thấy ngậm ngùi. Nó nhìn cặp kính đen của người và nghe thương vô hạn. Bao năm rồi quen sống trong bóng tối, người đã cam chịu một mình. Có ai hiểu người đang nghĩ gì không? Một quãng đời xông pha đã khép lại. Một quá khứ oai hùng đã trải qua. Chưa có đứa trẻ nào được hãnh diện về một người cha nghệ sĩ-chiến sĩ như người cả. Người cô độc và lạnh lùng trong cảnh sống rộn ràng. Người không biết đến mùa xuân, nhưng vẫn thổi những khúc nhạc xuân. Người không biết đến ánh sáng, mà vẫn góp tiếng cho đời thêm rạng rỡ.

- Cháu làm gì đó?

Người ấy hỏi lại. Thằng Quốc đặt tay lên chân người, đáp nhỏ:

- Cháu ngồi đây.

Người nghệ sĩ cười nhẹ:

- Bác sắp đi.
- Bác đi đâu?
- Về chỗ trú của bác. Ngày mai bác về quê.

Thằng Quốc giật mình:

- Ủa! Bác về quê?

Tiếng cười lại cất lên:

- Chứ cháu tưởng bác không có quê sao? Bác dành dụm những tiền kiếm được đủ mua một vé xe.
- Bao giờ bác trở lại đây?
- Chừng nào bác thấy thích. Không chừng bác ở luôn dưới quê. Bác muốn dừng chân, không đi thổi kèn rong nữa.

      Thằng Quốc tiu nghỉu. Nó muốn nói với người ấy rằng nó rất thích thổi kèn, nó muốn học nghề với người ấy. Nhưng thôi. Ông ta sắp ra đi và nó cũng chưa có một cây kèn nữa.

      Rồi cũng đến lúc người nghệ sĩ ra đi, vì trời đã quá tối. Mẹ thằng Quốc đứng trên thềm nhà nhìn theo, mắt còn ướt lệ. Thằng Quốc đưa ông ta ra đầu xóm. Nó biết việc đó hơi thừa nhưng nó muốn làm vậy vì chợt nhận thấy ở nó và người nghệ sĩ này có một thứ tình quyến luyến. Nó nói, khi đã ra đến đường cái:

- Cháu chúc bác ăn Tết ở quê vui vẻ.

Người ấy nắm lấy bàn tay bé nhỏ của nó, cười:

- Hết Tết rồi, nhưng bác sẽ ăn Tết muộn vậy. Cháu rán học nhé, thằng con ông Thượng sĩ Hạc.
- Dạ.

       Thằng Quốc chỉ biết “dạ” và đứng im nhìn người nghệ sĩ đeo cây kèn đồng trước ngực, quơ gậy bước đi. Màu đồng sáng loáng trong đêm và mất hút. Thằng Quốc buồn bã quay về và lại gặp cây kèn đồng – cây kèn đồng nhỏ trên tay một thằng bé.

- Cho mày mượn nè Quốc.
- Ở đâu vậy?

Thằng bé nhe răng cười:

- Còn làm bộ hỏi. Hồi chiều tao “thổi” chứ đâu!

      Thằng Quốc e dè cầm cây kèn. Nó nghĩ đến người mù giờ này đã đi mất. Phải chi nó có kèn sớm, giờ này chắc đã thổi được bài “Chiến sĩ vô danh”. Nó muốn chạy theo người, nhưng chân vẫn dán cứng một chỗ. Thôi thì tập một mình vậy. Nó đưa cây kèn lên môi. Cây kèn nhẹ hều. Mặc cho thằng Quốc bấm nốt lia lịa, cây kèn vẫn chỉ phát ra được một tiếng “toe”.

Thằng con ông hút ngạc nhiên khi thằng Quốc trả cây kèn lại:

- Ủa, mày khoái cây kèn này lắm mà?

      Thằng Quốc lắc đầu và bỏ đi. Nó chỉ thích cây kèn của người mù, vì cây kèn đó thổi được bài “Chiến sĩ vô danh” làm mẹ nó khóc, làm nó se sắt lòng. Nhưng người mù nghệ sĩ đã đi. Nó vẫn chưa có dịp thổi kèn như ông ấy. Nó tiếp tục sống đời sống của một cậu học trò nghèo, đời sống của “thằng con ông Thượng sĩ Hạc”, con của một người lính đã nằm xuống đời đời. Nó tiếp tục hãnh diện với những người trong xóm mỗi lần nhắc đến tên ba nó và sẽ hãnh diện với ý nghĩ “nghèo vẫn trong sạch” của nó.

      Trước sân nhà, mẹ nó vẫn đang gọt những củ cải để làm dưa món ăn Tết muộn. Có tiếng thằng bé con ông hút thổi kèn “toe, toe” khắp xóm. Có tiếng người mù thổi kèn tây nghe mơ màng trong gió – “rừng trầm phai sắc, thấp thoáng tàn canh, hỡi người chiến sĩ vô danh…” – tưởng như người vẫn còn đâu đây.

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Bán nguyệt san Tuổi Hoa, số 220,  ngày 1-3-1974

tuoihoa.hatnang.com

 

   

Bìa 1                                                                   Bìa 4

 

 

 

 

 

Vẫn là mùa xuân (Hình: MT)

1

Tôi ngỡ ngàng. Đứa con trai đẩy chiếc xe lăn tới trước mặt tôi. Dù con đã nói trước, cũng như bác sĩ đã nói trước, rằng từ nay tôi phải sử dụng xe lăn, tôi vẫn cảm thấy mình choáng váng khi nhìn thấy nó. Người bạn của tôi từ nay về sau là đây ư? Tôi như người bước hụt chân trong giấc mơ.

“Ba, con đỡ Ba ngồi vô nghen!”

Như là nghe một thứ tiếng lạ nào. Tuy vậy, tôi vẫn rướn người đứng dậy. Không thể. Đôi chân tôi đã yếu quá rồi! Tôi đành để con trai đỡ tôi ngồi vào xe lăn. Thì cũng như một chiếc ghế dựa thôi mà! Còn êm ái nữa là khác! Hãy làm quen với nó!

Thật khó khăn. Tôi tự an ủi trong ý nghĩ rằng nào phải mình chưa biết mùi ngồi xe lăn. Đôi ba lần trong đời nhà binh, bị thương, nằm bệnh viện, ngồi xe lăn, chờ vết thương lành hẳn. Mới đây thôi, những lần đi máy bay, ngồi xe lăn cho nhân viên phi trường đẩy đi cho mau vì mình không còn là trai trẻ. Vậy có khác gì? Rồi tôi giật mình. Khác chứ! Khác rất nhiều. Những trường hợp kia là tạm thời, vì sau đó tôi vẫn đứng lên được, đi đứng bình thường. Nhưng lần này là mãi mãi. Ôi Trời Phật ơi! Đôi chân tội nghiệp của tôi đã không buồn cử động. Đúng ra là có, nhưng rất ít, rất yếu, không đủ để tôi đứng dậy, không đủ để tôi nâng bước. Tôi đã chịu thua. Bây giờ có tập vật lý trị liệu cũng chỉ để làm dáng cho vui. Tôi phải chấp nhận.

Và đó là cảm giác của tôi trong ngày đầu…

Bây giờ thì tôi bước sang một trạng thái khác. Tôi không còn thấy xa lạ với chiếc xe lăn. Nhưng cảm giác không giống như cảm giác đối với cái “walker”. Lúc trước, với cái “walker”, tôi hy vọng rằng có ngày chân tôi khỏe lại, tôi sẽ nói lời từ giã nó. Còn bây giờ, tôi thấy chua chát. Dù muốn hay không, tôi đành phải “gắn bó” với người bạn này.

Bỗng nhiên tôi muốn co rút lại, giống như một đứa bé thích chui vào một tấm chăn để đừng ai thấy mình và mình cũng chẳng thấy ai.

Nhà có hai tầng. Tôi chọn rút về tầng hầm. Không chọn cũng không được, vì từ cửa sau của tầng hầm có đường dốc thoai thoải, tiện lợi để đẩy xe lăn. Còn nếu đi ra bằng cửa trước thì chỉ có các bậc tam cấp, khó khăn hơn. Tôi thích cái không gian yên tĩnh này. Một đôi lần có họp mặt bà con ở tầng trên, con trai phải bồng bế tôi lên. Những lúc đó tôi la hét vì chịu cái cảm giác đau đớn như xé hai chân. Là bởi vì tôi đã ráng lết đi. Tôi tưởng mình có thể lên được những bậc thang. Nhưng không có phép lạ. Thật hết chịu nổi! Tôi muốn khóc.

Sau những buổi như vậy tôi trở nên cáu kỉnh hơn. Tôi ngồi hàng giờ nhìn đôi chân. Chân tôi vẫn còn cảm giác, vẫn có thể cử động. Nhưng chúng đã vô dụng. Tôi không còn sức. Tôi muốn ngủ một giấc thật dài để đừng nghĩ ngợi, để quên hết mọi chuyện.

Nhưng sao lúc này tôi lại sáng suốt không ngờ. Tôi lặng nhìn ra khoảng không, thấy như hai cánh cổng của một khu vườn mở ra, chan hòa ánh nắng…

Ngày mùa xuân thật ấm. Tôi được về phép. Cả nhà như rộn ràng hẳn lên. Tôi dẫn vợ con đi chợ Tết. Tôi không dám nhắc đến trận mạc mình mới từ đó trở về. Nó như không có thật. Ở đó là máu lửa, là chết chóc. Còn ở thành phố này, trái ngược hẳn, là một chốn bình yên. Có chăng là những đêm vắng nghe tiếng đại bác xa xa vọng về không đủ làm trẻ nhỏ giật mình. Nghe có vẻ mâu thuẫn, nhưng đó là thực tế của cuộc đời chúng tôi. Đó cũng là lý do để chúng tôi cầm súng ra trận.

Tôi đã từng là một người lính.

Rồi cái khu vườn mùa xuân đó bỗng tối sầm lại. Tiếng hai cánh cổng rít lên rồi đóng rầm nhức óc. Tất cả chỉ còn là một vùng đen lặng thinh.

 

2

“Mình ngủ quên hồi nào? Để tôi đưa mình vào giường.”

Tôi nằm mơ nữa chăng? Gương mặt này quen thuộc quá, thân yêu quá! Vậy mà đã có một thời gian tôi không nhận ra, dễ cũng mất mấy tháng trời, sau cái trận gọi là “tai biến” đó. Tôi không nhớ một ai, đến khi tưởng là nhớ được thì lại nhầm lẫn lung tung. Có khi tôi nói lộn tên mấy đứa con, chúng được dịp cười bò lăn. Chúng cười là muốn làm cho tôi vui thôi. Chúng tôi nói năng một cách khôi hài với nhau. Tôi nhớ nhớ quên quên, ý tứ lộn xộn như trong một mớ chỉ rối. Vậy mà tôi đã tập được. Bác sĩ bảo con trai giúp tôi tập. Con trai thường gợi ý cho tôi nhớ lại chuyện xưa. Nó hầu như “ra lệnh” cho tôi. Và tôi tuân theo nó như tuân lệnh một cấp chỉ huy. Ấy thế mà tôi đã phá được cái vùng đen lặng thinh. Tôi nhìn thấy tôi trong những khu trại gồm những căn nhà lụp xụp. Đi đâu cũng có người canh gác. Chúng tôi làm việc trên những khu rẫy trồng khoai sắn. Tôi nhìn thấy tôi những khi bụng đói chân run. Tôi nhìn thấy tôi đang nghe những bài thuyết giảng xoáy sâu nhức óc. Có khi tôi ôm lấy đầu như đang sống thực trong khoảng thời gian đó. Con trai bảo tôi kể đi, kể cho trí nhớ phục hồi. Tôi kể. Có lúc tôi bật khóc. Tôi như kẻ đang bị tra tấn. Tôi nghe đau đớn trong từng tế bào não… Nhưng khi cơn đau qua đi, tôi thấy tôi đã khá hơn.

Và tôi không còn nhầm lẫn nữa. Nhất là với người này, vợ tôi.

Tôi hỏi:

“Con đâu?”

“Nó còn ngồi máy trên nhà. Để tôi đỡ mình.”

“Không, phải gọi con thôi! Mình không đỡ tôi nổi đâu!”

“Tôi làm được mà!”

“Mình cũng như tôi, xấp xỉ tám mươi rồi, không phải thanh niên nữa.”

Đôi mắt kia bỗng long lanh giọt lệ. Vợ tôi vẫn nhu mì, đa cảm như thế đó. Ôi, tôi ước gì chúng tôi được trẻ lại để có thể tay trong tay chạy băng qua những cánh đồng đầy hoa cỏ mùa xuân…

Gần sáng, tôi thức dậy. Chiếc ghế sofa đặt thẳng góc với giường tôi trống trơn. Có tiếng tụng kinh văng vẳng từ nhà trên vọng xuống. Tôi không rõ từ lúc nào vợ tôi đã chăm chỉ kinh kệ mỗi ngày. Điều này trở nên quen thuộc đến nỗi tôi không thắc mắc. Tôi tự trả lời rằng có lẽ là từ ngày tôi bị “stroke” vợ tôi đã cầu khấn Ơn Trên ban sự bình an cho tôi. Bà ấy đã chẳng bao giờ kể lể.

Tôi ngồi dậy, đưa tay định bấm vào cái nút gắn ở đầu giường như thường lệ. Con trai sẽ nghe tiếng chuông và chạy xuống đỡ tôi vào xe, giúp tôi vào nhà tắm. Nhưng tôi ngừng lại. Tôi tự bảo hãy thử làm một mình. Tôi nắm một tay lên tay vịn của chiếc xe, tay còn lại chống lên giường. Tôi chỉ có thể cử động phần trên. Lấy hết sức lực, tôi như quăng mình lên đệm xe. Chiếc xe lắc mạnh, và Trời ơi, nó… không ngã. Tôi nghe đau buốt hai chân. Nhưng một cảm giác chiến thắng òa đến. Tôi vui lắm! Và tôi dùng hai bàn tay lăn bánh xe đi khắp phòng. Tôi bắt đầu dọn dẹp những vật dụng trên bàn, trong tủ, nơi nào tôi có thể vói đến. Đồ đạc trong phòng khá nhiều, con trai bảo có nhiều đồ đạc thì căn phòng sẽ ấm hơn. Nhưng bề bộn, lôi thôi quá! Tôi phải sắp xếp lại cho đúng ý. Đây rồi, những khung ảnh của ngày xưa, thời niên thiếu, thời tuổi trẻ của tôi. Những hình ảnh khi tôi đã qua đây, chụp cùng các chiến hữu trong những buổi họp mặt. Giờ đây kẻ còn người mất. Tôi nao lòng. Nhớ quá, đồng đội ơi!

Và đây rồi! Mấy quyển sách nhạc. Tôi mở ra. Từ lúc nào tôi đã không hát lại những bản nhạc này. Một thời gian trí nhớ như mù sương khiến tôi quên bẵng chúng. Tôi lẩm nhẩm hát lại. Và rồi không cần nhìn vào trang sách nữa, tôi hát như từ trong tim. Tôi nhắm nghiền đôi mắt, hát say sưa.

 

3

Sắp bước sang xuân, trời ấm dần. Con trai thường đưa tôi “đi phơi nắng”. Bác sĩ bảo người già cũng như em bé, cần có ánh nắng. Trừ những lúc đẩy xe lăn cho tôi được thưởng thức cái không khí thoáng mát trên đường hay trong công viên, còn một nơi con trai cũng thích đưa tôi đến: tiệm cà phê Starbucks. Chúng tôi không vào bên trong mà chọn ngồi phía ngoài. Tôi ngồi phơi nắng và thưởng thức ly cà phê nóng hổi. Hai cha con yên lặng nhìn người qua kẻ lại.

Có một lúc tôi thôi nhìn thiên hạ, mà nhìn qua con trai. Tôi se lòng khi chợt thấy vài sợi tóc bạc trên đầu của con. Con trai mình không còn trẻ nữa! Nó là con trai đầu lòng. Các em đã có gia đình, có con cái. Con trai cả vẫn ở độc thân. Nhiều lần chúng tôi bảo nó lấy vợ đi, nó cự nự.

Bỗng dưng tôi thốt lên:

“ Con nè, ai đó đã nói rằng trong một gia đình đông con thì thế nào cũng có một đứa ở vậy chăm sóc cha mẹ già. Điều đó Ba đã thấy đúng ở một số gia đình của bạn bè và… cả gia đình của mình nữa. Có phải đó là một sự thiệt thòi cho đứa con ấy không?”

Con trai cười thành tiếng:

“ Ba lại sắp “ca bài con cá” với con nữa? Khi nào con gặp được người vừa ý thì con sẽ hối Ba Mẹ chạy không kịp đó!”

“Ba cũng mong như vậy. Thời nay cha mẹ đâu có phải lo nhiều, các con đủ sức lo cho mình. Ba chỉ thấy con hy sinh cho Ba nhiều quá! Con vừa phải đi làm, vừa lo chăm sóc Ba…”

“Con thấy vui mà ba!”

Hai cha con cùng im lặng. Tôi nghĩ thà cứ ngô nghê như hồi mới bị bệnh mà hay. Càng phục hồi trí nhớ, càng hiểu về những việc xung quanh, càng thấy khổ tâm.

Trên lề đường trước tiệm cà phê, có vài người già chống gậy đi ngang. Họ cũng có cái thú đi uống cà phê buổi sáng. Tôi nhìn lại mình và chiếc xe lăn, không nén được tiếng thở dài. Con trai chợt nắm chặt bàn tay tôi, nói vội:

“Ba, Ba uống cà phê đi kẻo thành cà phê đá.”

“Ừ, để Ba uống. Trời lạnh…”

Tôi không muốn giấu giếm cảm xúc của mình lâu. Tôi nói như trút nỗi niềm với con:

“ Con muốn Ba đừng ái ngại cho con, thì Ba cũng muốn con đừng lo âu cho Ba. Thật sự thì có những lúc Ba xuống tinh thần lắm. Ba bị trầm cảm con à! Cho đến cái ngày Ba tình cờ nhìn thấy quyển sách con để trong tủ, lúc Ba lục đục sắp xếp, dọn dẹp vào sáng sớm. Ba thấy lạ, quyển sách này Ba chưa hề thấy bao giờ. Ba tưởng mình quên, nên Ba giở ra. Là quyển sách do Sullenberger viết…”

Con trai hoảng hốt:

“Ba đã đọc?”

“Phải, Ba đã đọc, “Highest Duty: My Search for What Really Matters,”tâm sự của người phi công anh hùng trên dòng sông Hudson. Sully cứu được mạng sống của cả trăm con người nhưng rất đau khổ vì ngày xưa đã không cứu được cha mình. Ba biết con đã đọc kỹ quyển sách này, Ba hiểu tâm trạng của con. Con hãy nhớ một điều: cái ý chí muốn sống phải là do chính người ấy quyết định. Cha của Sully đã không muốn sống…”

Thốt được bấy nhiêu lời, tôi nghe lạnh cả người. Đôi mắt con trai đỏ lên. Thằng bé từ nhỏ đến lớn hầu như chẳng bao giờ khóc. Nó là đứa kiên cường nhất nhà. Khi tôi khăn gói vào trại tù cộng sản thì nó là đứa khăn gói lên vai buôn bán tảo tần cùng mẹ lo cho đàn em. Không, con ơi, Ba thề sẽ không bao giờ để lại cho con một gánh nặng tâm hồn như Sully.

Nét mặt của con trai như giãn ra. Nó có vẻ thoải mái. Dường như nó đã dẹp được một tảng đá đè nặng trong lòng.

Bỗng nhiên tôi muốn ca hát. Mấy hôm nay tôi nhớ lại khá nhiều bài nhạc ngày xưa tôi vẫn thường hát. Tôi tưởng tượng những buổi văn nghệ trong trại lính sau ngày hành quân. Ôi sao mà thuở đó mình hát như thuộc lòng. Bây giờ có những đoạn tôi nhớ không nổi. Con trai nói sẽ tìm trong internet và in ra cho tôi hát. Tôi bảo tôi sẽ nhắc nó… nếu nó quên.

Tôi cất tiếng hát một bản ruột. Bản “ Tâm Sự Người Lính Trẻ.” Tôi nhắm mắt lại. Hình như khi nhắm mắt người ta sẽ chú tâm nhiều hơn, nhớ nhiều hơn, và cũng lắng nghe nhiều hơn. Tôi lắng nghe tiếng lòng của mình. Tôi biết có một anh bạn, sau khi bị “stroke”, nói năng lắp bắp không rõ lời, nhưng khi hát lại rất trôi chảy. Bác sĩ bảo hãy cứ hát. Âm nhạc là một phương thuốc quý giá. Dần dần trí nhớ của anh phục hồi được một phần, mà nói năng cũng rõ ràng hơn.

Tôi để tiếng lòng mình lan tỏa. Tôi hát không cần đàn, không cần có bản nhạc trước mặt. Hát xong một bài, tôi cười vang sung sướng rồi bắt qua một bài khác. Hình như có vài người khách vừa uống cà phê vừa lắng nghe. Tôi như bắt được một nhịp thông cảm. Một lát, có một người phụ nữ da trắng từ trong tiệm đi ra, đứng lại bên tôi và lắng nghe. Khi tôi dứt bài hát, bà nói:

“Ông hát hay quá! Tôi thích giọng hát của ông,”

“Cám ơn bà.”

Người phụ nữ ngập ngừng:

“Cha tôi cũng đã từng hát như thế, trước tiệm cà phê này...”

“Cha của bà…?”

“Vâng. Cha của tôi đã qua đời cách nay vài năm. Ông vốn rất thích hát. Khi giải ngũ trở về ông đã mất hết cả hai chân. Nhưng ông sống rất lạc quan. Ông thích ngồi ngay chỗ này để phơi nắng, uống cà phê, ngắm người qua kẻ lại. Và ông hát cho mọi người nghe… “Where Have All The Flowers Gone?” và nhiều bài nhạc thời chiến tranh. Cha tôi đã từng là một người lính.”

“Cám ơn bà đã chia sẻ câu chuyện. Tôi, tôi cũng đã từng là một người lính.”

“Thế ư? Thật hay quá!”

“Cám ơn bà.”

“Ông có biết không, những người đến uống cà phê ở tiệm này sẽ thưởng thức những bài hát của ông, dù có thể họ không hiểu lời bài hát. Nhưng ông hát như một cách đem mùa xuân đến cho họ. Biết đâu trong số đó cũng có những người như tôi. Họ sẽ cảm thấy được an ủi. Tôi cám ơn ông nhiều lắm!”

Và như thế, tôi đã trở thành người “ca sĩ” thường xuyên mỗi cuối tuần trước tiệm cà phê Starbucks này.

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Giai phẩm Việt Báo Xuân Đinh Dậu 2017

 

 

 

 

 

 

 

 

Thư viện trường Dược náo nhiệt vui vẻ chưa từng có. Chẳng là mọi người từ thầy đến trò đều tập trung lo cho một việc: triển lãm tranh mùa xuân. Thật là ngộ nghĩnh khi thầy dạy môn Thực tập Ký sinh trùng nêu lên ý kiến triển lãm tranh. Dân trường Dược vẽ tranh? Thật khó tin! Nhưng nếu đi từ đầu câu chuyện thì không có gì lạ cả: Thầy khám phá rằng trong đám sinh viên phụ tá cho thầy ở "labo", có rất nhiều bạn vẽ đẹp. Có người nghe vậy la lên: "Ôi Trời! Vẽ con giun, con sán, con ruồi, con muỗi, hay con Plasmodium gây bệnh sốt rét... thì được, chứ làm sao vẽ tranh thiên nhiên hoa cỏ bốn mùa hay vẽ thiếu nữ xinh tươi như họa sĩ "thứ thiệt" vẽ được!"

Thế nhưng thực tế đã khác hẳn. Đâu phải chỉ có "dân Ký sinh trùng" vẽ tranh! Khi thông báo của nhà trường được niêm yết trên chiếc bảng lớn ngoài cổng thì sau đó "nhân tài" rục rịch xuất hiện. Chỉ mới một ngày mà danh sách tham dự đã đến gần hai mươi người. Gần hai mươi họa sĩ, trong đó có cả các thầy các cô. Rồi thì các sinh viên. Có người đã vẽ từ lâu. Có người đã từng học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định. Có người từ trước đến nay nổi tiếng trong trường vì đã làm phụ tá vẽ hình để in tài liệu cho sinh viên học trong các phòng thực tập. Thật là hào hứng! Bởi vì khi các bức tranh được đem đến thư viện, thì thật sự là những bức tranh. "Tranh mùa xuân"! Cũng đúng với chủ đề. Và không ngờ cuộc triển lãm lại thu hút toàn trường rồi kéo theo những trường "hàng xóm". Đó là trường Văn khoa và trường Nông Lâm Súc. Không lâu sau, tiếng đồn còn vang xa và có thêm những người thưởng thức đến từ các trường trung học và đại học khác nữa. Các họa sĩ thầy, họa sĩ trò, vui vẻ nhã nhặn vừa làm nhiệm vụ chào đón khách vừa làm người tự giới thiệu phần tranh của mình. Thầy Biền với nét chấm phá rất đơn giản nhưng đã lột tả được những góc cạnh phong phú của vườn dược thảo. Cô Liên với những bức tranh sơn dầu màu sắc trang nhã vẽ nên cảnh nhộn nhịp của sân trường. Các bạn sinh viên, mỗi người một kiểu, vẽ nên những chi tiết của bốn mùa. Những bức tranh vẽ tĩnh vật, tranh vẽ thiếu nữ, tranh vẽ nhi đồng... tuy với đề tài rất quen thuộc nhưng không kém phần độc đáo, nhất là khi người xem mường tượng ra cảnh những người họa sĩ ấy ngày ngày làm công việc thật tỉ mỉ bên các chai lọ pha chế, thì họ lại càng cảm thấy thú vị.

alt
 Tranh của Nguyễn Diễm Phúc
 
 
Mọi người dừng lại nhiều nhất trước bức tranh mang tựa đề "Rừng Xuân Đã Khép". Bức tranh vẽ bằng màu bột. Nét vẽ mềm mại. Màu sắc được chọn là màu hồng cho tà áo dài của người con gái đứng một mình, và một màu xanh thẫm cho nền rừng phía sau lưng của cô. Thế thôi, thật đơn giản! Họa sĩ là Phúc Ân, sinh viên năm thứ năm, sắp ra trường. Khi được hỏi vì sao cô gái trong tranh mặc áo màu hồng, có hơi "chõi" với màu lá rừng hay không, Ân trả lời:
- Vì đó là màu mà cô ấy thích mặc.
Thế là không tránh khỏi có những câu hỏi đương nhiên tiếp theo:
-Thế cô ấy có thật à?
-Cô ấy là ai?
-Cô ấy có học trong trường Dược không?
v.v. và v.v...
Dĩ nhiên là Ân không cho biết.

Nhưng rồi, một chuyện bất ngờ và trùng hợp xảy ra. Khi một bạn nam soi mói nhìn vào gương mặt cô gái trong tranh, thấy có chút khác lạ nơi môi trên của cô, hắn ta khôi hài hỏi:
-Thưa họa sĩ, có phải trong khi vẽ, anh đã bị ... trật tay, làm hơi lem ở khóe môi cô gái?
Những người đứng xem tranh xúm lại gần hơn, và xì xào:
-Phải đấy, có phải anh không cố ý vẽ khóe môi cô gái hơi xếch lên?
Một người khác:
-Nhưng mà xếch lên thế lại dễ thương ấy nhá!
-Phải! Mà dù có xấu cũng không sao. Triển lãm tranh tài tử, có bán buôn chi đâu mà sợ!
Toàn là những câu trêu đùa vui vẻ không ác ý. Nhưng không ngờ một cô sinh viên đứng trong đám người ấy cảm thấy chột dạ, sau khi cô cũng nhón gót để nhìn cho rõ người con gái trong tranh. Cử chỉ đó làm mọi người lưu ý đến cô. Một cô gái bé nhỏ, tóc chấm ngang vai, mặc áo dài màu hồng, và... nơi khóe môi trên có một vết sẹo. Vết sẹo nhỏ đến nỗi chỉ như một cái nhếch lên của bờ môi, làm cho cô gái có một nét duyên dáng đặc biệt. Không nhiều người biết đến cô, ngoại trừ vài bạn cùng lớp. Bởi cô là sinh viên năm thứ nhất, chỉ vừa mới vào trường vài tháng.

Như hoảng hốt trước một sự việc bất ngờ, cô gái đi nhanh ra cửa. Cô nghe mặt nóng ran. Cô tưởng như cái đám đông ấy đang ùa theo sau lưng mình. Đến trước cổng vườn dược thảo, cô dừng chân, len lén ngoái đầu lại. Ồ, mình chỉ khéo tưởng tượng thôi! Không có ai đi theo cả. Cô tự trấn an mình: Thật ra chẳng ai thắc mắc làm chi về một con bé "lính mới" không có gì đặc biệt như mình. Cô nhoẻn miệng cười với bức tượng ông Galien, ông tổ của ngành Dược. Chỉ với ông, cô gái mới có thể tỏ sự thân mật không chút e dè!

* * *

Buổi triển lãm tranh đã rất thành công. Thành công không chỉ ở số lượng người đến xem, mà còn ở hành động của một số vị "Mạnh Thường Quân" đã sẵn sàng bỏ tiền ra mua một số bức tranh họ ưng ý. Phúc Ân cũng bán được một số tranh, nhưng bức tranh "Rừng Xuân Đã Khép" anh từ chối không bán. Và anh cũng không nói lý do. Điều này dĩ nhiên gợi nên một vài câu hỏi ở những người để ý đến anh. Nhưng rồi mọi việc cũng chìm vào quên lãng. Sinh viên trường Dược có tiếng là chăm học, nên mọi người lại vùi đầu vào bài vở. Chỉ có điều, sau cuộc triển lãm đó, Ân đã không giấu tài nữa. Anh bắt đầu cộng tác với một số tạp chí cần anh vẽ tranh bìa cho báo. Anh vẽ tem thư. Anh tham gia một vài cuộc triển lãm tranh giúp các hội từ thiện. Tên tuổi của anh được người ta biết đến. Một điều đương nhiên thôi!

Không ai biết đến câu chuyện đàng sau bức tranh "Rừng Xuân Đã Khép". Một hôm Phúc Ân đón cô gái áo hồng ở nhà để xe. Lúc đó cô gái đang lúi húi đạp máy chiếc xe Cady lì lợm không nổ. Bác giữ xe của trường vừa mới chịu thua sau khi giúp mà không thành công. Ân tiến đến nói nhỏ:
-Chào Mai. Để tôi thử xem.
Cô gái ngạc nhiên, hơi bối rối. Nhận ra đó là Phúc Ân, cô chào lại:
-Dạ, chào anh.
Nói như vậy rồi cô bẽn lẽn, nghĩ thầm sao lại "bị" người ta biết tên mình. Cô đứng yên, nhìn người thanh niên đạp máy chiếc xe. Chiếc Cady này ngày nào cũng vậy, đạp máy bở cả hơi tai mới chịu nổ. Lúc đầu nó cứ bướng bỉnh kêu "ịch ịch" như trêu ngươi, nhưng rồi, như chú ngựa ngoan ngoãn nó đã nổ máy, reo những tiếng hân hoan. Mai lí nhí cám ơn. Ân cười nhẹ, đến bên xe của mình lấy bức tranh đã được bao bọc kỹ lưỡng, đưa cho cô:
-Tôi xin tặng cho Mai.
Mai không hiểu, đưa mắt tỏ ý hỏi. Ân nói ngay:
-Là bức tranh.
-Bức tranh?
-Vâng, bức tranh "Rừng Xuân Đã Khép".
Mai bối rối vô cùng. Cô nắm chặt hai bàn tay trên "ghi-đông" xe, môi mím lại. Ân hỏi:
-Cô có bằng lòng nhận không?
-Vì sao... vì sao anh lại tặng bức tranh cho Mai?
-Vì... vì... tôi đã vẽ Mai mà! Tôi xin lỗi... Người thiếu nữ trong bức tranh là Mai đó!
Mai đỏ mặt. Cảm xúc của mình lúc này là gì, Mai không hiểu nổi. Vui mừng? E thẹn? Như một phản xạ, Mai nhìn quanh. Nhà để xe đã thưa người. Ân chờ đợi. Mai bỗng lắc đầu, nói nhỏ:
-Mai... Mai xin lỗi... Mai không nhận đâu ạ!
-Sao? Mai không...?
-Mai không thể. Xin lỗi anh Ân. Anh đừng bắt Mai giải thích.
Ân tỏ vẻ thất vọng. Mai líu ríu nói:
-Xin lỗi... Cám ơn anh đã giúp Mai đạp máy xe. Mai xin phép về ạ!
Tiếng máy xe Cady bây giờ nghe rầu rĩ. Mai rồ "ga" cho xe chạy đi, để Ân và bức tranh lùi lại sau lưng.

* * *

Một vết sẹo! Mai nhìn mình trong gương. Gương mặt khả ái không hề xấu đi một chút nào, dù đã có một vết sẹo ở môi trên. Thật ra vết sẹo này chỉ có giá trị đối với cảnh sát, để ghi đặc điểm nhận dạng trong trường hợp đi làm thẻ căn cước. Người không biết chuyện sẽ không thể ngờ được tai nạn xảy ra cho Mai năm ngoái, trên đường đi học về, cũng với chiếc xe Cady này. Sáng hôm ấy người thợ sửa xe đã bơm bánh xe trước quá căng mà Mai không để ý. Trên đường về, bánh xe bị "banh ta-lông" hất Mai lộn xuống đường trong lúc xe đang chạy bon bon. Mai ngất đi và được người đi đường đưa vào lề. Khắp người Mai trầy chợt, ê ẩm. Đôi môi sưng to lên, cả tháng trời ăn uống không được. Vào bệnh viện may mấy mũi. Mai có một vết sẹo nhỏ trông dễ nhầm với nét cong lên của khóe môi. Nhưng dù sao thì đó cũng là một cái sẹo. Và xấu hổ hơn nữa, là vết sẹo này được nhầm với "cái trật tay" của một chàng họa sĩ. Mà chàng đã vẽ mình trong lúc nào? Sao chàng lại để ý đến mình mà không phải là mấy cô gái khác trong trường? Mình không ngờ đã trở thành "người mẫu" cho chàng vẽ tranh. Mà mình có biết chi đâu! Ôi thật là đáng ghét!

Nhưng không phải ghét chàng. Chính là Mai ghét mình. Mai ghét mình đã không tự nhiên thoải mái để nhận bức tranh. Mai ghét mình đã có thể vô tình làm cho chàng nghĩ Mai là một cô gái "đài đệ", khó tính. Thật ra không phải vậy. Mai chỉ là hơi buồn vì khuyết điểm trên khuôn mặt của mình thôi. Từ đó làm cho Mai rụt rè. Mà chàng thì đã quá "nổi bật", ít nhất là trong trường này. Mai bần thần, tự trách, rồi lại nghĩ " Thôi, chắc là trời đã an bài như thế, hãy chiều theo tự nhiên". Mai lại lẩn thẩn tự hứa là đến khi nào nhà trường tổ chức triển lãm tranh nữa, thì Mai sẽ nhận bức tranh của Ân, bức tranh mà Ân đã vẽ mình. Lúc đó sẽ hết rụt rè, biết đâu chừng lại còn hãnh diện khoe với các bạn "Là mình đấy!" Ô, nhưng biết chàng có để dành bức tranh để lại tặng cho mình một lần nữa? Hay chàng sẽ bán đi cho một ai đó thấy thích bức tranh?

Ân không có dịp để triển lãm tranh. Cũng không có dịp tặng bức tranh cho Mai. Trường Dược cũng chưa có thể tổ chức thêm một cuộc triển lãm tranh nào. Cuộc triển lãm kia trở thành duy nhất. "Đổi đời", Mai theo gia đình di tản. Ân ở lại.  Rừng xuân đã khép.

Và đó, chuyện của hơn ba mươi năm trước.

* * *

Một ngày xuân trên đất Mỹ, Mai nghe các bạn bàn nhau sẽ đi xem triển lãm tranh. Bao năm qua, những sinh hoạt như vậy không xa lạ chút nào với Mai. Nhiều khi Mai cảm thấy mình không còn hứng thú nữa. Dù vẫn được thưởng thức những tác phẩm độc đáo, Mai không có lại cái cảm giác của ngày xưa, lúc nhón gót nhìn cho rõ bức tranh... người ta vẽ mình. Mai vẫn nhớ lắm màu rừng xanh thẳm. Mai ước mình được thấy lại bức tranh ấy dù chỉ một lần. Và, ôi! Mai không tin ở mắt mình, trên tờ "flyer" giới thiệu, một cái tên, Phúc Ân. Anh ấy đã có mặt ở đây!

Hồi hộp lắm. Mai đi một mình. Mai không muốn rủ bạn hay người nhà. Mai không chắc mình có thể tỏ ra cứng cỏi. Bao nhiêu năm qua, Mai chỉ được biết một vài tin tức về Ân qua mấy người bạn. Không có gì đặc biệt.  Biết Ân vẫn sống ở Việt Nam như bao nhiêu người vẫn sống. Biết Ân ra trường trễ một năm, sau cuộc "đổi đời". Biết Ân làm việc tại một tỉnh cuối miền quê hương. Biết Ân không "làm nghề" họa sĩ nữa, không vẽ báo, không vẽ tem thư. Bao nhiêu người vẫn sống. Mai cũng như vậy thôi! Như những con sông, vẫn chảy, nhưng chưa chắc gặp nhau ở cùng một đại dương.

Người đến xem vừa đủ đông để Mai phải hơi khó khăn tìm được một chỗ đứng. Trên tường, nơi các giá kệ, các bức tranh và tác phẩm điêu khắc được chưng bày rất trang trọng. Mai cũng đã tìm được khu vực dành cho tranh của họa sĩ Phúc Ân. Và đây rồi! Trong số hơn mười bức tranh của Ân, "Rừng Xuân Đã Khép", vẫn là đó. Cô gái áo hồng đứng bơ vơ trên nền rừng xanh thẳm. Mai nghe tim mình đập mạnh. Mai có cảm giác những người đứng cạnh bên mình đã nhận ra đây là người trong bức tranh kia. Bởi vì Mai cũng đang mặc một chiếc áo dài màu hồng. Bởi vì trên khóe môi của Mai, vẫn còn vết sẹo duyên dáng đó. Nhưng Mai bàng hoàng. Tất cả đều xa lạ. Đâu có ai để ý đến mình. Mai đảo mắt tìm quanh. Ân ở đâu?

Một người đàn ông xuất hiện. Không phải là Ân. Người đó mở lời:
-Xin kính chào quý vị. Tôi là trưởng ban tổ chức buổi triển lãm, xin thay mặt cho người bạn của tôi, họa sĩ Phúc Ân, trân trọng cám ơn quý vị đã đến với tranh của Phúc Ân. Lần đầu tiên Ân gửi tranh sang để triển lãm, anh đã lựa chọn hơn mười bức tranh mà anh ưng ý nhất, trong số hàng trăm bức tranh anh đã vẽ. Sau khi quý vị đã thưởng thức, nếu quý vị có nhã ý mua, chúng tôi rất cảm kích... Nhưng chúng tôi cũng xin nói ngay là họa sĩ Phúc Ân sẽ không sử dụng số tiền bán tranh cho cá nhân mình, mà sẽ gửi tặng cho một tổ chức từ thiện quốc tế....

Lời phát biểu của vị trưởng ban tổ chức được một người khác dịch ra tiếng Anh. Người kia nói tiếp:
-Thưa quý vị, rất tiếc chúng tôi không thể đón được họa sĩ Phúc Ân sang đây, dù chúng tôi đã hứa lo đầy đủ chi phí, nhưng... thưa quý vị, sức khỏe của anh không bảo đảm cho một chuyến đi dài. Anh đã đến thời kỳ cuối của bệnh ung thư gan...
Mai nghe nghẹn thở. Đâu đó có những tiếng thì thầm như thắc mắc. Vị trưởng ban tổ chức tiếp lời:
-Cái tên Phúc Ân vẫn còn xa lạ với quý vị, nhất là với những bạn trẻ, nhưng thưa quý vị, những ai đã từng học ở trường Đại học Dược khoa Sài Gòn, hay nói chung là những người đã từng sống trong Miền Nam trước năm 75 có thể đã quen thuộc với tên của anh. Anh không phải là họa sĩ chuyên nghiệp, anh không vẽ nhiều, nhưng tranh của anh nói lên được tâm trạng khao khát trước thiên nhiên và con người. Và với những bức tranh trước mắt quý vị đây, tất cả đều được chứng minh. Riêng có một bức...
Người ấy bước tới trước một bức tranh, nói với giọng xúc động:
-Đây là tác phẩm mà họa sĩ Phúc Ân yêu quý nhất. Anh có nhắn tôi một lời gửi gắm, đó là, nếu tìm được người thiếu nữ tên Mai, từng là sinh viên Dược khoa, thì thay mặt anh để tặng lại cho cô ấy. Nhưng nếu không gặp, thì tôi sẽ thay anh bán đấu giá bức tranh này để lấy tiền giúp cho tổ chức "Operation Smile".

Mai vừa mới dợm bước đã khựng lại. Nghe đến tên của tổ chức nhân đạo này, mọi ý nghĩ trong đầu của Mai đã thay đổi như một tia chớp. Phải, Mai đã rất nóng lòng muốn nhận lại bức tranh. Mai đã cảm thấy cái vinh dự được là nguồn cảm hứng cho một người họa sĩ. Mai không còn là cô bé lẩn thẩn ngày xưa, chỉ vì vết sẹo nhỏ, chỉ vì tính e ngại, mà Mai đã không đến gần được với người, Mai đã bỏ người lại sau lưng.

Ân ơi, có phải anh cũng băn khoăn một đời vì vết sẹo trên khóe môi người con gái nhỏ ngày đó? Anh không biết rằng mấy năm qua Mai đã luôn vận động mọi người đóng góp cho tổ chức "Operation Smile", để giúp có tiền cho những ca giải phẫu đem lại nụ cười cho những em bé nghèo bất hạnh khắp nơi trên thế giới. Những em bé đó mới sinh ra đã mang dị tật sứt môi, hở hàm ếch. Cái mặc cảm ở các em lớn lắm. Nhờ "Operation Smile", các em có thể lấy lại sự duyên dáng cho khuôn mặt, nét tự tin ở nụ cười. Từ đó các em có thể đứng thẳng và hội nhập vào cuộc sống. Đơn giản thế thôi! Mà không ngờ anh cũng đã có cùng niềm đồng cảm và ước mơ như vậy.

alt

Một người phụ nữ có tuổi tiến lại gần bức tranh, nói với mọi người:
-Tôi xin mua bức tranh này với giá một trăm ngàn Mỹ kim. Nếu sắp tới đây, quý vị không tìm ra được người trong tranh, xin hãy cho tôi nhận tác phẩm này.
Tiếng vỗ tay vang dội cả phòng tranh. Một trăm ngàn đồng! Có nghĩa là hơn bốn trăm em sẽ được giải phẫu lấy lại nụ cười! Rồi sau đó có thể còn nhiều hơn nữa. Mai cũng muốn reo vui thật to. Mai hân hoan bước đến nhìn thật kỹ vào bức tranh. Mai cười và như thì thầm với cô gái áo hồng trong ấy. Em nhé! Không cần phải nhận mình là người trong một tác phẩm. Hãy để cho tác phẩm đó là của mọi người. Nó sẽ được sống mãi. Cho tôi nhìn lại một lần nữa, màu hồng của áo, màu xanh thẳm của rừng. Kỷ niệm vùn vụt chạy qua trong tích tắc như đường bay của ánh sáng. Tòa nhà trường Dược với kiến trúc cổ kính. Những giảng đường thênh thang sinh viên vào ra tấp nập. Vườn dược thảo xanh ngắt những chiều tan lớp đi thơ thẩn trò chuyện trước tượng Galien. Câu lạc bộ ấm cúng những đêm văn nghệ. Thư viện sáng sủa nhưng tĩnh lặng, cũng là nơi tôi gặp mình trong một bức tranh. Nhà để xe, tăm tắp những hàng xe gắn máy, xe đạp, nơi tôi bỏ người họa sĩ và rừng xuân đứng lại. Người sẽ ở lại bên kia mãi mãi. Nước mắt tôi đã dạt dào.

Từ giã thôi, "Rừng Xuân Đã Khép".

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Việt Báo Xuân 2011
 
 

alt

 

Ngày ba mươi Tết. Đồng Nguơn.

Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn.

Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?

Trên đường đi, hầu như ở đâu cũng thấy ruộng. Đến những xóm nhà dân thì ruộng được thay thế bằng những sân phơi thóc. Thóc phơi trước nhà, nhiều đến nỗi phơi lấn lên mặt đường. Thóc phơi ở sân bên hông nhà. Và chắc chắn là có cả ở sân sau. Con gái thị thành, lần đầu tiên thấy cái gì cũng lạ, lạ từ cây cầu tre lắt lẻo cho đến vườn chuối, ao bèo. Nhưng bây giờ chị đã thấy quen thuộc. Tất cả ẩn hiện trên đường đi. Và khi xe dừng trước ngõ xóm, đi vào khu dân cư, thì quang cảnh lạ hơn một chút.

Lính đóng trước nhà dân. Chị hỏi thăm. Và đây rồi! Lời dặn của anh thật chính xác, chị đã tìm ra anh. “Tìm ra”, là bởi vì anh đang xắn tay áo giúp bà chủ nhà phơi thóc. Một cảnh rất bình yên.

Anh giới thiệu chị với bà chủ nhà:
-    Thưa bác, đây là bà xã của cháu.
Hai người chào nhau. Bà chủ nhà, trạc tuổi mẹ của chị, trầm trồ một cách thật thà:
-    Cô… cô đẹp quá!
Chị ngượng nghịu cúi đầu. Anh tự nhiên hơn, khoe ngay:
-    Bà xã của cháu là hoa khôi trong trường đó bác!
-    Vậy sao? - Tiếng “Vậy sao” đặc trưng của người miền nam. Bà cũng không hỏi là trường nào.

Hai người bước chậm rãi trong sân phơi thóc. Đó là một khoảng sân tráng xi-măng sạch sẽ. Có mùi thơm thoảng nhẹ. Chị nghĩ “mùi thóc lúa”, rồi thầm chế nhạo mình dân thị thành ít biết về chuyện thôn quê. Ba năm qua, kể từ khi anh ra trường Thủ Đức, chị thỉnh thoảng đi thăm anh như thế. Anh đi nhiều nơi ở miền nam. Cô nữ sinh Đà Lạt từ cao nguyên xuống với cảnh ruộng đồng, rồi ra cũng đã khá quen. Có lúc thăm anh tận tiền đồn, nhưng cũng có lúc thăm tại nhà dân, nơi đoàn quân trú đóng chờ di chuyển. Lần này là Đồng Nguơn, một cái tên chưa một lần chị nghe đến, dù là trong bài học Sử Địa. Anh viết thư báo rằng anh không được về nhà ăn Tết. Tết này phải cấm trại. Lệnh cấp trên cho phép người nhà đến thăm. Và thế là chị đã biết Đồng Nguơn.


Họ đi vào nhà. Bà chủ nhà đang lui cui sau chái bếp chuẩn bị đãi họ bữa cơm chiều. Chị trố mắt ngạc nhiên, khi nhìn thấy bên trong nhà là nền đất, trái ngược hẳn với sân xi-măng láng bóng sạch sẽ phơi thóc ngoài kia. Anh hiểu ý, giải thích:
-    Ở đây nhà nào cũng vậy, họ coi trọng cái sân phơi thóc, nên tráng xi-măng kỹ lắm! Còn trong nhà thì đa số rất đơn sơ.
Bà chủ nhà bước lên nhà, chỉ vào bộ ván cao, bảo chị:
-    Tối nay cô nghỉ ở đây với tôi, không lo gì cả nhé!
-    Dạ, cám ơn bác. Mấy ngày cháu ở đây, sẽ làm phiền bác lắm ạ!
-    Không sao đâu. Tui có một mình, có cô và các anh đây sẽ vui mà! Con trai tui vài ngày mới về, cháu đi làm ở quận.
Chị hỏi:
-    Bác ơi, thóc phơi sau nhà, nhiều quá, một tay bác làm sao xuể ạ?
-    Mùa này không mưa, khi con trai về thì nó giúp tui. Nhưng cô biết hôn, mấy ngày nay có các anh đây giúp, tui cũng đỡ lắm!
Bà đưa đôi mắt nhìn anh, tỏ vẻ biết ơn.

Trời tối thật mau. Chị chưa kịp ngắm nhìn trọn vẹn quang cảnh xung quanh.

Những người lính ăn cơm ngoài sân, xong rồi họp lại đàn hát. Anh chị chơi với họ một chốc rồi anh nhắc chị đi ngủ sớm. Bà chủ nhà đã vào mùng.  Đèn dầu thắp mù mù. Hai người ngồi ở bậc thềm cửa. Muỗi bay vo ve bên tai. Anh không cho chị ngồi nữa, sợ bị muỗi đốt.
-    Ngủ sớm đi em! Sáng mai mình còn nhiều thời gian nói chuyện. Anh sẽ đưa em ra chợ chơi.
Chị “dạ”. Ngày mai còn nhiều thời gian. Chị vẫn có đủ thời gian báo cho anh một tin vui.

**

Mới đâu khoảng bốn giờ sáng. Chị bị đánh thức bởi tiếng lao xao người ta nói chuyện bên ngoài. Bà chủ nhà cũng thức giấc. Họ cùng lắng tai nghe.
Anh đến bên bộ ván, nói khẽ:
-    Anh phải đi.
Chị ngồi ngay dậy:
-    Anh đi sao?
-    Có lệnh hành quân.
Chị ra khỏi mùng, quơ chân tìm đôi giép mang vào. Bà chủ nhà cũng ra, nói vội:
-    Để tui gói cho mấy anh vài đòn bánh tét.
-    Dạ cám ơn bác.
Anh quay sang chị:
-    Tiếc quá, không được ăn Tết với em. Em về Sài Gòn ăn Tết với chú thím vậy nhé!
-    Dạ.
-    Hay là em ở lại đây chơi với bác một ngày, mai hãy về.
-    Dạ.
-    Em đừng buồn nhé!
Rối anh ôm siết lấy chị. Chị muốn nói cho anh về tin vui. Nhưng chị tự ngăn mình lại. Anh sắp ra lại vùng hành quân, nhiệm vụ chắc sẽ rất nặng nề. Anh sẽ có nhiều việc để lo. Thôi, cứ để về nhà, viết thư sau cũng được.

Toán quân đã đi. Nhanh gọn như khi họ đến. Bà chủ nhà không ngủ lại được, ra sau bếp nhóm lửa. Chị đứng một mình trong gian nhà thênh thang.

**
Đứng trong sân phơi thóc, chị thấy rõ tấm lòng trân trọng của người dân thôn quê đối với “hạt ngọc trời cho”. Họ đã dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho việc trồng, gặt, phơi lúa. Bà chủ nhà, tóc đã pha sương, vừa xới những hạt thóc lên, vừa kể cho chị nghe chuyện gia cảnh của bà. Chồng chết khi bà mới sanh đứa con trai, bà ở vậy nuôi con. Phước cho bà, đứa con trai lớn lên cũng ngoan, chăm làm, nên bà không lo lắng gì nữa. Có mấy công ruộng bà cho người ta thuê, bà cũng đủ ăn với số thóc lúa phần bà có được. Trong khi nghe bà kể chuyện, chị dõi mắt nhìn phía vườn cạnh sân phơi thóc. Là một vườn mai. Sắc hoa vàng đã ánh lên một vùng. Mồng một Tết, nhà nông có người cũng vẫn ra ruộng. Nhưng sắc xuân về chan chứa không lầm vào đâu được. Bỗng đâu có vài tiếng nổ vang lên rời rạc. Bà chủ nhà cũng như chị, nghiêng tai lắng nghe. Hai người nhìn nhau. Họ ngầm nói qua ánh mắt: không phải pháo, mà là tiếng súng.

Chị sẽ không thể ở lại đây ăn Tết với bà chủ nhà như anh dặn. Anh không có mặt nơi này. Chị xin phép bà chủ nhà để về lại Sài Gòn. Bà không ép, gói ghém cho chị hai đòn bánh tét. Bà ân cần nói:
-    Cô cẩn thận nghen! Có bầu, đi đứng nhẹ nhàng, đừng xách nặng.
Chị cảm động. Mình không có nói gì với bà, vậy mà con mắt của người phụ nữ dạn dày với cuộc sống đã cho bà biết. Vâng, cái điều đã làm cho chuyến đi thăm chồng lần này của chị có một điều đặc biệt khác với những lần trước. Cái điều chị muốn kể cho anh nghe nhưng không đủ thời gian. Cái điều mà chị sẽ phải viết trong thư mà thôi.

Chị như lênh đênh trong cái không khí Tết ở miền quê, nhưng lại không giống Tết. Chị giống như người lữ hành cô độc nhiều hơn. Trên phà Mỹ Lợi về thành phố, màu vàng của hoa mai vẫn còn dịu dàng vương vấn. Tiếng pháo đốt lén rời rạc vang lên như từ mọi phía của mặt sông. Và như có khói bay vào mắt.

**
Ba mươi tháng tư. Đồng Nguơn.

Anh đứng trong sân sau. Sân phơi lúa thóc. Không có thóc. Bà chủ nhà đã gom hết thóc đi xay và trữ gạo vào nhà, như để chuẩn bị cho những ngày mưa tới. Mảnh sân trơ trụi như không có sức sống. Nhịp sống cũng có vẻ đang dừng lại thật. Anh đau đớn như bị ai tước đoạt một cái gì. Những ngày cố gắng chống chọi bằng tàn hơi rồi cũng phải chấm dứt. Anh cho đồng đội giải tán. Họ không còn thấy lại nhau. Mỗi người đi về trú quán của mình. Trên con đường nhỏ trước khi vào ấp Đồng Nguơn, bày ra một cảnh anh chưa từng bao giờ nghĩ đến: áo quần giày mũ của lính vương vãi khắp nơi. Anh cắn chặt môi, cố gắng giữ vẻ bình tĩnh. Bà chủ nhà, vẫn ân cần như trước, dọn cơm cho anh ăn. Bà ái ngại hỏi:
-    Anh tính sao?
-    Dạ, cháu về Sài Gòn, ra trình diện ạ!
-    Phải. Ai cũng vậy hết. Tui nghĩ chắc không sao đâu!
-    Dạ, chắc không sao…
-    Còn gia đình, còn vợ con, anh hãy ráng…
-    Dạ, cháu cám ơn bác, cháu sẽ ráng.
Anh nuốt miếng cơm vào họng. Cơm mặn đắng.

Khi chỉ còn một mình ngoài vườn, anh đấm mạnh nắm tay vào cột gỗ. Máu chảy. Anh để dòng nước mắt uất hận chảy tuôn.

**

Và như thế, như những người thất trận khác, anh trình diện, rồi đi vào trại “cải tạo”. Anh trấn an bà con đừng lo nghĩ nhiều cho anh. Chị đã theo gia đình đi về Đà Lạt sau mấy tuần tạm trú ở Sài Gòn “lánh giặc”. Bây giờ thì hết chỗ để lánh. Đâu đâu cũng là “họ” rồi!

Anh đi “tù cải tạo” hơn hai năm, rồi vì bệnh nặng nên anh được cho về. Bà con Sài Gòn mừng vui, lo lắng cho anh, hỏi anh “tính sao”. Anh đâu biết tính sao. Cuộc đời đã xoay chuyển không ngờ. Người thanh niên lớn lên với bao nhiêu hoài bão xây đắp, bây giờ như đứng trong một cái hố sâu của thất vọng. Anh vẫn còn trẻ quá mà! Hai mươi bảy tuổi. Anh chưa biết “tính sao”.

Trở về Đà Lạt. Gia đình của cha mẹ anh bị “kiểm kê” mất hết tài sản vì có một cửa tiệm trên chợ, nên được gọi là “tư sản mại bản”.  Ba anh thất chí. Anh thất chí. Hai cha con vác cuốc đi làm rẫy. Nhiều người Đà Lạt khi đó cũng đi làm rẫy. Như một cái “mốt” chăng? Không hẳn thế. Mà là một phương tiện để sinh sống. Không bán được khoai củ như nhà vườn chuyên nghiệp thì cũng “có cái để ăn”. Thời gian này người dân cao nguyên thiếu gạo hơn cả cái thiếu của miền xuôi. Gạo bán kèm với thức ăn độn là khoai sắn theo “tiêu chuẩn đầu người”. Có nhà ăn su ăn sú trừ cơm. Anh tận dụng chiếc xe gắn máy cũ để chở rau chở sú về nhà. Nhưng ba của anh thì muốn đi bộ. Ông thường mang cái túi lớn trên vai, oằn lưng vác về những hoa màu thu được. Có khi ông gánh. Ông bảo thời chạy “tản cư” năm 1945 ông cũng gánh. Bây giờ ông trở lại gánh. Ông chủ tiệm với ông làm rẫy là một. Ông cuốc bộ đến quen, nhất quyết không đi xe. Cứ như vậy cho đến ngày ông chết.

Anh càng thất chí hơn. Anh trở về phố. Hai vợ chồng thuê nhà ra ở riêng. Thằng con trai kháu khỉnh lớn nhanh. Chị đã nghỉ học lâu nay, ra chợ bán buôn . Nói “bán” cho hay ho, chứ cái gọi là gian hàng của chị là một khoảng sân nhỏ bên hông chợ, trên đó chị bày một ít rau để bán. Những chanh, những hành, những ớt. Thế thôi. Cái “gian hàng” oai phong như thế vẫn phải đóng tiền chỗ mỗi ngày. Nhưng Trời thương, nhờ cái mảnh gian hàng đó mà chị trang trải được những chi phí cho gia đình. Cô nữ sinh hoa khôi của trường nữ trung học áo xanh đã đổi khác rất nhiều, đã nhuốm phong sương đúng theo nghĩa đen, vì sương và gió sớm của xứ lạnh đâu có tha cho làn da của một ai. Buổi sáng chị ra chợ sớm đón những nhà vườn mang rau ra bỏ mối, ngồi bán suốt ngày cho đến tắt mặt trời, tối đến lo cơm nước, dọn dẹp nhà cửa, đón con từ bà nội về. Chị vẫn mỉm cười, không một lời than.

Nhưng anh thì mắc bệnh trầm cảm. Anh đã không quen được với cảnh đời mới dù anh luôn dặn mình hãy cố gắng. Đêm ngủ anh thường giật mình ngồi bật dậy, nghe ùa đến trong anh nỗi xót xa thương nhớ đồng đội. Anh nhớ những con suối, những khu rừng, những làng mạc thôn ấp. Anh nhớ cảnh nhường nhau từng bịch gạo sấy, từng điếu thuốc hút một nửa. Rồi anh thảng thốt trong một giấc mơ có cảnh các anh em đồng đội vội vàng cởi bỏ quân phục, tìm đường chạy mỗi người một phương. Anh vẫn còn nghe rất rõ giọng nghẹn ngào của người lính gần gũi mình nhất: “Thiếu úy! Em sẽ tìm lại Thiếu úy.”  Anh nhớ cái nắm tay chảy máu của mình. Anh lại hãi hùng với ký ức những ngày trong tù cải tạo. Những lời thuyết giảng xoáy vào tai. Những lời nhiếc móc. Những ngày nắng lửa lầm lũi đi lao động. Những buổi mưa dầm ngồi trú ở một góc nào đó nhớ nhà, nhớ cha mẹ vợ con. Anh đã bị một hậu chứng khó chữa lành. Anh không dễ dãi đi tìm quên ngoài quán nhậu. Anh tìm vào một thế giới có nhạc, có thơ văn. Nhưng tất cả đều không giúp gì được cho anh.

Một ngày, người lính cũ tìm đến nhà anh. Thầy trò mừng tủi. Người lính vẫn gọi anh là “Thiếu úy”. Và thật cảm động, anh ta tặng “Thiếu úy”  một chậu mai vàng. Cây mai Đồng Nguơn, vì anh ta là người dân miền ấy, đã được anh “rinh” lên xe đò đem đến tận đây để tặng người chỉ huy cũ của mình.

**

Cây mai trồng ở cao nguyên, vẫn sống nhưng không nở hoa. Bao nhiêu mùa xuân vùn vụt trôi. Mỗi Tết đến, anh trông chờ cây mai nở những nụ hoa vàng. Nhưng nó sống èo ọp, thoi thóp như một cơ thể héo úa. Người ta bảo cây mai nếu được chăm sóc tốt có thể sống cả trăm tuổi. Anh quyết định cho nó ra ngoài đất, không để trong chậu nữa. Có người anh em bạn rủ đi làm rẫy dưới chân đèo Prenn, anh đem cây mai về trồng dưới đó.

Anh chọn làm rẫy, sống như một người ẩn dật. Chị thì không muốn. Chị chọn sống ở Đà Lạt, ngay phố chợ để buôn bán. Chị đã sắm được một cửa tiệm nhỏ bán len và đan áo. Anh đi đi về về. Bề ngoài, trông họ vẫn là một gia đình bình thường.

Đứa con trai lớn lên thành một cậu thanh niên tuấn tú. Nhưng cậu có lối sống trầm mặc. Cậu thường tìm mua những mẩu đá quý, và ngồi một mình yên lặng hằng giờ, khắc lên những mẩu đá ấy nào tượng Phật, nào tượng Chúa, nào tượng thần tiên. Cậu thiếu sự gần gũi với cha. Hai mươi mấy năm, hai cha con chỉ nói với nhau những câu thật đơn giản. Mà anh cũng không biết có cái gì để chia sẻ cùng con. Bởi anh còn mang một tâm bệnh chưa chữa lành.

**

Chị khóc khi đọc những dòng chữ tuyệt vọng của anh:

“Có thể anh sẽ chết. Như bao người tuyệt vọng. Cây mai anh trồng mãi chẳng nở hoa. Anh không quên được quá khứ. Anh không quay lưng với mình. Nhưng anh hằng phải đối diện với những kẻ lãng quên, những kẻ quay lưng. Có lẽ anh sẽ chết. Một ngày nào cây mai chết vì không muốn nở hoa, anh cũng sẽ chết”.

Cả tuần nay anh không về nhà. Tết đến nơi rồi! Một mình chị lo “cúng quảy trong nhà trong cửa”, nói theo cách quen thuộc của người mình. Đứa con đi với bạn bè vào núi tìm mua đá quý. Chị nghe nỗi buồn xót xa bào xé trong lòng. Đã có ai đó nói rằng một người buồn quá có thể “vỡ tim”. Có một anh bạn đã chết vì nhồi máu cơ tim và chết trong giấc ngủ không ai hay biết. Anh rồi cũng thế sao? Chị hoảng hốt. Đứa con về nhà sáng mồng một. Hai mẹ con đèo nhau trên chiếc Honda, xuống rẫy của anh.

 

alt



Chân đèo Prenn. Rẫy nằm sâu bên trong, cách đường lộ lớn một cây số. Thằng con chở mẹ trên đường đất đỏ gập ghềnh. Họ đến trước sân nhà, một ngôi nhà nhỏ như mọi cái nhà quanh đây dựng sơ sài để trông chừng vườn rẫy. Chị như rú lên khi trông thấy cây mai ủ rũ xơ xác, khô đét. Bao nhiêu năm nay nó vẫn sống tuy rằng sống buồn sống héo. Bây giờ nó muốn chết rồi chăng? Chị chạy như bay vào nhà. Ngôi nhà đơn sơ chẳng mấy khi khóa cửa. Chị sẽ gặp anh như thế nào đây? Ôi, anh ơi!..
-    Chúc mừng Năm Mới!
Chị giật mình. Anh trong bộ đồ tươm tất, trông như sắp sửa đi đâu. Chị bàng hoàng. Anh nói tiếp ngay:
-    Xin lỗi em. Anh chuẩn bị về trên nhà mình đây! Hôm nay là Tết mà! Mình về ăn Tết chứ em?
-    Dạ…
-    Con chở em xuống đây à?
-    Dạ, hai mẹ con chạy xuống với anh. Em sợ anh…
-    Sợ anh buồn à?
-    Không… Anh ơi, cây mai héo queo rồi!
Anh thở dài:
-    Phải. Mai vàng khó ra hoa nơi miền rừng núi lạnh lẽo. Ăn tết ba ngày xong mình cùng đi Đồng Nguơn đi em! Đi thăm thằng lính cũ của anh. Đi thăm ngôi nhà có lần em đã ghé đấy! Bà chủ nhà chắc bây giờ lụm cụm lắm rồi. Vườn mai của bà chắc nở đẹp phải biết. Phải đi Đồng Nguơn thôi! Thằng con cũng đi nữa. Anh có nhiều điều để chia sẻ với nó.

Nước mắt tràn đầy trong mắt chị. Người con gái hoa khôi trong trường nữ trung học áo xanh, bao năm dạn dày tần tảo vẫn sáng lấp lánh vẻ đẹp nhu lành. Chị gật đầu thật nhanh như sợ anh đổi ý, như sợ những gì mình nghe thấy chỉ là trong mơ.

Trước cổng, cây mai vàng xơ xác như sống lại. Cây mai của Đồng Nguơn.

Tháng 12, 2011

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

 

Thư Quán Bản Thảo Số 50, Xuân Nhâm Thìn 2012