Những bài mới nhất

 

Nghi phủ miếng giấy plastic lên gói hàng, bao bọc thật kỹ, trao cho người khách cuối cùng trong ngày. Chợ sắp đóng cửa. Nghi sắp đặt mọi thứ gọn gàng đâu vào đó, lau chùi các mặt bàn sạch sẽ, rồi tháo cái “tạp-dề” máng lên móc ngay ngắn. Nghi hơi mỉm cười như hài lòng với công việc của mình. Anh em bạn ai cũng vậy, tất cả đều đã xong việc. Họ chào tạm biệt nhau. Một ngày đã qua.

Nghi ra cổng, chợt thấy một không khí khác hẳn đang ùa đến. Những chậu cây cảnh, những bông hoa màu sắc tươi vui như đón mời. Cái đập vào mắt anh hơn hết là màu vàng tươi của những trái kim quất. Trong lòng đang bình yên bỗng như thấy nhớ nhớ một cái gì.

Một tà áo dài đi lướt qua. Nghi tự nhủ: “Không phải!” Có lẽ một sự hoài niệm bất chợt đã làm cho anh nhập nó vào hiện tại. Anh thấy mình ngây ngô khi nhìn theo tà áo đó. Chưa Tết mà! Tà áo dài chỉ được tìm thấy trong những dịp lễ của người mình. Anh nhìn kỹ. Đúng là áo dài. Một cô gái mặc áo dài. Anh bước theo tà áo một cách không chủ ý. Cô gái đi vào một cửa tiệm. À, một cửa tiệm bán quần áo! Có những người mẫu búp bê mặc áo dài được trưng bày trong tủ kính. Cô gái kia có lẽ là một nhân viên của tiệm. Gần Tết rồi, nhân viên mặc áo dài để quảng cáo cho tiệm cũng là điều dễ hiểu. Anh mỉm cười.

Chuông điện thoại cầm tay của anh reo. Anh bắt máy.

-         A-lô! (Anh vẫn thường thích nói “a-lô”)

-         Anh, anh ở đâu? Em đến đón anh nè!

-         Anh đang lang thang coi mấy cửa tiệm. Em chờ chút, anh ra ngay.

Và Nghi ra phía bãi đậu xe, tới chỗ anh đứng đợi Bích mỗi ngày. Bích đã dừng ở đó. Anh cười:

-         Anh xin lỗi. Anh thấy họ bày hàng Tết vui, anh ngắm.

Bích cười theo:

-         Rồi anh có ngắm cô nào không?

-         Có! Anh ngắm mấy cô “ma-nơ-canh” mặc áo dài đứng trong tủ kiếng.

-         Tha cho anh. Thế có gì hay nơi mấy cô đó?

-         Có. Các cô mặc áo dài đẹp lắm!

Nghi không nghe Bích nói tiếp. Anh nhìn sang, hỏi:

-         Sao? Em nghĩ gì vậy?

-         Không.

Bích im lặng. Nghi chợt thấy mình có lỗi. Anh nhớ ra rằng Bích rất ít khi mặc áo dài, trừ một lần trong đám cưới của con trai. Đi đâu Bích cũng thường mặc váy hoặc “đồ tây” cho thoải mái. Công việc hàng ngày cũng làm cho Bích phải cứng cỏi: làm nhân viên bưu điện đi phát thư. Hai vợ chồng dùng chung một chiếc xe nhỏ, Bích cũng muốn làm tài xế cho Nghi luôn. Vóc dáng của Bích không còn thanh mảnh như ngày xưa, nên Bích thường nói “mặc áo dài là một cực hình”.

Nghi nói khẽ:

-         Khen vậy thôi, chứ mặc áo dài thấy không thoải mái, khó làm việc há em!

Bích cười:

-         Thỉnh thoảng phải mặc chứ anh, quốc hồn quốc túy mà!

-         Ừ. Nhưng cái gì tiện lợi hơn thì mình chọn.

-         Anh cứ hay nói cho em vừa lòng.

-         Ừ thì anh phải làm cho em vừa lòng chứ! Em là vợ của anh mà!

Và thế là quãng đường về nhà như ngắn lại.

 

**

Nghi mở mắt. Tiếng nổ nghe xa xa. Như là âm vang trong ký ức. Mà thật thì giống như tiếng pháo. Phải rồi, tiếng pháo xuân! Tết đang đến thật gần. Những ngày tháng có Tết ở quê nhà thật không thể nào quên. Cậu học trò bị trêu là “sâu gạo” vì chăm học, trong những ngày Tết thường tận dụng thời gian được ở nhà để “gạo bài”, nhưng cũng không quên rủ bạn bè đi xi-nê, đi chúc Tết các thầy cô, hoặc đến các hội chợ để “thưởng thức mỗi thứ một ít”. Hết tuổi học trò, tình nguyện đi lính, cậu trúng tuyển vào trường Võ Bị Đà Lạt…

Nghi mơ màng dỗ giấc ngủ. Chợt có tiếng nổ xé tai vang trong đầu. Nghi ngồi bật dậy. Bích vẫn say ngủ sau một ngày mệt mỏi vì công việc. Đâu có gì! Chỉ là sự hoảng hốt của mình mà thôi! Nghi thấy khó thở. Mùi thuốc súng! Đâu đó có mùi thuốc súng! Nghi rón rén đi ra phòng ngoài, vào bếp uống một ly nước tự trấn an mình. Mình tưởng tượng chuyện gì vậy? Ôi, mình đã nhớ ra. Năm đó, mình đã không về Huế ăn Tết, vì muốn thưởng thức cái Tết ở Đà Lạt cho biết. Và cũng vì Đà Lạt có Bích. Mình muốn ăn Tết Đà Lạt với Bích. Mình xin lỗi ba mẹ, xin được nếm mùi “Xuân tha hương”.

Và, Tết năm đó, Tết Mậu Thân, ba mẹ Nghi đã bị VC giết chết trong một cuộc tàn sát tập thể. Nghi không bao giờ còn có thể gặp lại họ.

Nghi biết rồi! Những tiếng nổ và mùi thuốc súng chính là từ trong tâm tưởng phát ra. Ký ức của một thời kinh hoàng sống lại như những đợt sóng. Chúng xô đẩy làm tâm tư anh nhầu nát. Anh muốn nghẹt thở.

 

Hình: Người lính VNCH (internet)

 

**

-         Anh nhớ bún bò và mì Quảng của O Năm quá em à!

-         Sao tự nhiên anh lại nhớ như vậy?

Nghi nói, như thể đang mở ra một trang hình ảnh trước mắt:

-         Thì đó là hai món mà O Năm gánh đi bán mỗi ngày. Anh nhớ hôm thì O bán mì Quảng, hôm khác lại bán bún bò. Người Huế chính gốc, ở Đà Lạt, O Năm nấu ăn ngon “hết xẩy”.

-         Dạ phải. Em cũng nhớ O. Em nhớ nhất là lúc nào O cũng mặc áo dài đi bán. Có lẽ bây giờ bọn nhỏ mà nghe vậy thì chúng không tin nổi. Quang gánh trên vai, mấy bà mạ Huế mặc áo dài trông thương quá!

-         “Hay” chứ em!

-         Dạ phải, trông “hay” lắm!

Hai người cùng im lặng. O Năm là người hàng xóm dễ thương của Bích. Cái gánh của O Năm, coi đơn giản vậy nhưng là cả một gia tài. Một bên sắp xếp tô chén muỗng đũa, rồi nào bún, nào rau, nào thịt thà, nào ớt, chanh, hành, đậu phụng, mắm ruốc… đủ cả. Bên kia là nồi nước súp để trên bếp than hồng. Ngày nào O bán mì Quảng thì có thêm bánh tráng nướng dòn. Tụi trẻ con ăn mì Quảng cứ hay xin thêm bánh tráng, bẻ nhỏ cho vào tô. O mắng yêu “Cha mi!”, nhưng tay thì bẻ bánh cho thêm. Nghi và Bích không còn là trẻ nhỏ nữa, nên tỏ vẻ đàng hoàng ăn uống nghiêm chỉnh. Cái gánh hàng rong của O không cần bàn ghế hay đòn ngồi. Nhà nào muốn ăn, gọi O gánh gánh hàng vào, tự lấy bàn ghế của mình mà ngồi.

Tết Mậu Thân, O nghỉ bán vì chiến cuộc cũng xảy ra tại Đà Lạt. Khu Số Bốn không yên. O và các con tạm lánh ở phố chợ. Khi về lại Khu Số Bốn, O thấy căn nhà đơn sơ của O đã bị sập nát. O lâm bệnh và yếu hẳn từ đó.

-         Nếu có dịp về lại Đà Lạt, ước sao mình được ăn món bún bò và mì Quảng O Năm, em nhỉ!

-         Nhưng O đã mất lâu rồi!

-         Ừ!.. Phải!.. O đã mất lâu rồi!

Nghi nghe một cảm giác kỳ lạ chạy trong người. Cứ đến thời gian gần Tết, hai vợ chồng hay ôn lại những mẩu vụn vỡ của quá khứ, ráp lại như một chiếc kính vạn hoa. Có những kỷ niệm làm tiếng cười bật ra không ngăn được, và có những kỷ niệm làm nước mắt dạt dào rơi.

Nghi và Bích cưới nhau sau khi anh ra trường. Anh không còn người thân. O Năm ốm yếu nhận làm mẹ nuôi của chú rể. Một đám cưới đơn giản nhưng rất ấm áp. Chàng trai tốt nghiệp trường Võ Bị Đà Lạt và cô nữ sinh viên đại học Sư Phạm Đà Lạt, họ rất đẹp đôi.

Chồng đi trận, vợ ở nhà đi dạy học và nuôi con. Bị thương đôi ba lần, rồi người lính vẫn tiếp tục ra trận. Đến ngày buông súng, đứa nhỏ chỉ mới học xong trường mẫu giáo. Những năm tháng Nghi ở trong trại tập trung “cải tạo”, Bích vẫn đi dạy học. Rồi không chịu đựng nổi cái khổ ải tinh thần, Bích xin nghỉ việc. Giải nghệ, về nhà buôn gánh bán bưng, làm đủ mọi thứ việc cực nhọc, nhưng tâm trí của Bích đỡ nặng nề hơn.

Thời gian chồng chất trên vai như những gánh nặng đời. Nhưng người ta gánh được hết.

**

Nghi vào chợ. Không khí nhộn nhịp. Người đông hơn. Hàng họ nhiều màu sắc hơn. Anh mỉm cười khi nghe một đoạn nhạc quen thuộc phát ra từ chiếc radio treo trên tường. Đến giờ “Tâm tình” rồi đó! Cái chợ này là nơi có người nghĩ ra một sáng kiến độc đáo là treo radio lên để mọi người cùng nghe một đài tiếng Việt mà ai cũng thích. Nghe và bàn tán, vui. Người nào việc nấy. Nghi mặc chiếc “tạp-dề”, mang găng tay vào, nhanh nhẹn đi vào phòng lạnh đem những bao thịt ra bày trong tủ kính. “Đồ hàng” của anh đấy! Công việc của anh không đến nỗi vất vả nhiều. Nhưng phải chịu đựng được cái lạnh. Anh đâu xa lạ gì chuyện này. Đêm ngủ trong rừng sâu muỗi mòng mưa gió, sáng dậy sớm đi hành quân, vẫn không sao. Những ngày quần quật trong trại tù lao động, lưng oằn xuống vì những súc gỗ lớn, còn không chết. Anh đã làm nhiều việc từ lúc đến Mỹ, quê hương thứ hai này. Nay đã đến tuổi về hưu, anh vẫn muốn làm việc. Thằng con trai đã học xong đại học, ra trường, có nghề nghiệp vững chắc, lập gia đình. Vợ chồng Nghi yên tâm lo cho nhau. Bích vẫn đi phát thư. Nghi “làm chợ”. “Làm chợ”, nghe hay hay.

-         Cho tôi hai pounds thịt bò, xắt lát ăn phở giùm, cám ơn anh.

Nghe quen thuộc. Tiếng Việt. Anh mỉm cười, cân miếng thịt đã được người khách chọn, đem vào máy thái ra những lát mỏng y như nhau, sắp đều tăm tắp vào vỉ xốp. Rồi Nghi kéo căng miếng plastic phủ lên gói hàng, bao bọc thật kỹ, trao cho người khách đầu tiên trong ngày của mình. Tự nhiên anh nghĩ ra một ý vui vui. Ai đến chợ Việt Nam cũng phải “o bế” khu hàng thịt cá. Chặt chặt, thái thái, gói gói, cân cân, không lúc ngơi tay. Đặc biệt, khu vực này chỉ toàn nam giới. Trong đó, có thầy giáo, có cựu quân nhân. Họ cũng là văn thi sĩ, ca nhạc sĩ của gia đình họ. Họ gánh gánh đời không than van không mệt mỏi. Họ không huênh hoang, nhưng cũng như những người thầm lặng khác, đắc đạo trong chính những công việc của mình.

Nghi lại mỉm cười. Anh nghe mùa xuân về thật ấm.

 

Tháng 12, 2012

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Thư Quán Bản Thảo số 55, tháng 1, 2013

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài đoạt giải “Tác Phẩm Xuất Sắc Viết Về Nước Mỹ Năm 2010” do Việt Báo trao tặng

alt

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh nhận giải “Tác Phẩm Xuất Sắc Viết Về Nước Mỹ 2010,” giữa Nhà Văn Nhã Ca, chủ nhiệm sáng lập Việt Báo và Nhà Báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.

 

- Lời tác giả : Tên của các nhân vật chính trong truyện đã được tác giả thay đổi. Mọi sự trùng hợp, nếu có, đều là ngoài ý muốn. Kính mong quý độc giả thông cảm .

***

Khu vườn dễ thương mang tên Tuổi Hoa, nơi nuôi dưỡng những cây bút tuổi học trò, nằm khiêm nhường bên cạnh nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế đường Kỳ Đồng Sài Gòn. Mặc cho ngoài đường nhộn nhịp đông đúc, bên trong khuôn viên nhà thờ thật êm ả.

Muốn đi vào tòa soạn Tuổi Hoa, Ly phải qua nhà sách Đức Mẹ. Đến một hành lang ngắn, Ly gõ cửa căn phòng đầu tiên và rón rén thò đầu vào, gặp Cha Chân Tín, vị chủ nhiệm của báo, Ly lên tiếng chào Cha. Cha với nụ cười thật hiền hòa, lúc nào cũng hỏi han Ly. Rồi tiếp đến, sang chào bác Trường Sơn là thư ký tòa soạn, Ly nhận một lô thư từ để đem về căn phòng nhỏ của mình. Bác Trường Sơn vẻ nghiêm nghị nhưng luôn sẵn sàng nở nụ cười ưu ái đối với Ly và chỉ dẫn cho Ly những điều cần thiết trong công việc. Sáng đi học, chiều đi làm thư ký nhỏ kiêm “thầy cò”(1), Ly cảm thấy vui lắm.

Những buổi chiều khi đã xong công việc của tòa báo, Ly thường hay thơ thẩn đi qua phía nhà thờ. Ly không vào bên trong giáo đường, mà dừng lại trước hang đá có tượng Đức Mẹ. Những bó hoa tươi mọi người đem đến sắp xếp trang trọng xung quanh chân tượng, bên cạnh những tấm biển nho nhỏ ghi dòng chữ “Tạ ơn Đức Mẹ”. Không gian yên tĩnh thật dễ thương. Ly để tâm tư chìm vào lời cầu nguyện.

Cái thời xa xưa, mỗi khi bác Trường Sơn bảo Ly viết bài, thì ý tưởng ở đâu tuôn trào dào dạt. Nhất là đến Tết, không khí nhộn nhịp của tòa soạn làm cho cô bé tăng thêm cảm hứng. Thuở đó, Ly hăng say viết. Viết như mình thở vậy. Hầu như chỉ cần một hình ảnh lướt qua trước mặt, thậm chí trong ý nghĩ, hay chỉ cần một từ ngữ nào đó, cũng đủ gợi nên cả một câu chuyện. Các bạn đọc nhỏ tuổi đến chơi tòa soạn vào những chiều thứ bảy, thường đặt ra cho Ly những câu hỏi đại khái như :“Truyện của Ly viết là thật hay là tưởng tượng?”. Ly cũng thành thật nói ngay: “Là thật, đan xen với những điều tưởng tượng”. Và thế là Ly đã có những người bạn văn nghệ thật dễ mến đến gặp gỡ, trò chuyện thường xuyên. Cuộc sống của cô học trò và rồi trở thành cô sinh viên xem ra có vẻ bình yên với những bài viết đăng đều đặn trên những kỳ bán nguyệt san, và thỉnh thoảng một quyển truyện dài dành cho tuổi mộng mơ. Nhưng bên cạnh đấy, cô có một góc đời khác: sống với công việc xã hội, vì thế những mảnh đời thật từ đó cô đã đem vào trong văn. Đơn giản là như thế!

Trong những người bạn gần gũi với Ly nhất, có cô bé thi sĩ nhỏ Quỳnh Mai. Cặp kính cận gắn trên khuôn mặt bầu bĩnh làm Quỳnh Mai có một vẻ hóm hỉnh dễ thương. Quỳnh Mai thường đến chơi với Ly, nói chuyện một chút và ngồi yên lặng xem những trang báo mà Ly đang sửa. Từ ngữ chuyên môn gọi đó là những “bản vỗ” (2), nghĩa là những bản in nháp để Ly sửa chính tả hay những chữ sai nếu có, rồi khi đã được thợ nhà in sắp chữ lại cho hoàn toàn đúng mới đem in thật để phát hành. Quỳnh Mai cũng hay xin phép bác Trường Sơn cho theo Ly xuống nhà in để xem những cỗ máy in thật lớn, tiếng máy dập ì ầm làm át cả tiếng nói, và ngắm những chồng báo cao ngất ngưỡng, những hộc gỗ to tướng đựng đầy những mẫu chữ khắc bé tí xíu, chữ nào để riêng hộc nấy; rồi đến những nơi đóng gáy, cắt xén…. Chao ôi, công việc trong nhà in thật là bận rộn, khiến cô bé Quỳnh Mai rất ngạc nhiên. Cô bé nhìn “chị Ly” của mình với tất cả vẻ thán phục. Nhưng Ly đã quen rồi! Có chăng là cái ngày đầu tiên tiếp nhận công việc làm “thầy cò”, Ly cũng “ngố” không kém. Học hỏi từ từ rồi đâu cũng vào đó. Trong tòa soạn thì Ly được xem là em út, nhưng đối với các độc giả nhỏ tuổi trạc bằng Quỳnh Mai thì Ly được làm chị. Ngoài việc làm “thầy cò”, Ly giúp bác chủ bút trả lời thư tín, sắp xếp bài vở và, quan trọng nhất, là viết bài!

Mùa xuân năm đó, tòa soạn nhộn nhịp hơn cả bình thường với không khí chuẩn bị cho báo Tết. Căn phòng nhỏ mà Ly làm việc mỗi buổi chiều cũng là phòng hội họp. Những người phụ trách các mục thường xuyên của tờ bán nguyệt san Tuổi Hoa, như các anh Hà Tĩnh, Quyên Di, Trinh Chí, họa sĩ Vi Vi, thầy Hoàng Đăng Cấp.., mỗi người một vẻ. Anh Quyên Di nhỏ nhẹ, anh Hà Tĩnh điềm đạm, anh Trinh Chí vui vẻ, thầy Hoàng Đăng Cấp nói rất nhanh và kể chuyện rất hay, riêng họa sĩ Vi Vi rất vui tính, ân cần và lúc nào cũng tài tình với ngọn bút lông. Bên cạnh đó, còn có những cây bút trẻ cộng tác viên cùng về tụ tập tại căn phòng nhỏ của Ly, hỏi han, bàn luận vui vẻ. Nhân đó, Ly cũng trao cho từng anh chị những bức thư do độc giả gửi đến. Lại những điều chia xẻ thật vui. Khi gần tối, mọi người đã về hết, chỉ còn Quỳnh Mai ở lại cùng với Ly để giúp dọn dẹp căn phòng, Ly lại có một người khách mới đến. Một cô bé!

***

Mai Vi nhỏ hơn Ly bảy tuổi. Khi cô bé xưng tên, Ly biết ngay đó là vị độc giả thiếu nhi tuần trước đã viết cho Ly một bức thư làm quen. Và bây giờ thì quen thật. Như đã từng biết nhau, họ tay bắt mặt mừng. Và dĩ nhiên, có duyên gặp gỡ cả Quỳnh Mai nữa. Hai cô bé thích thú khi thấy có cùng tên Mai. Có lẽ những lời khách sáo không dành cho những người bạn nhỏ này, nên cả ba người đã vào chuyện rất nhanh. Mỗi người tự kể chuyện về mình và hỏi thăm hai người kia. Đối với Ly và Quỳnh Mai, cuộc sống khá êm ả: sinh ra, lớn lên và học hành tại thành phố. Riêng Mai Vi lại có cả một khung trời cơ cực. Tuổi thơ không yên bình trải ra tại một làng nhỏ ở quận Đông Hà thuộc tỉnh địa đầu Quảng Trị. Lên tám tuổi, cô bé đã hứng chịu một tai ương đau lòng. Nhà thờ bị pháo kích từ phía bên kia, trong khi đang có đông đảo giáo dân làm lễ. Bà ngoại và Mai Vi đều bị mảnh đạn hỏa tiễn làm mất cả đôi chân. Người mẹ góa bụa của Mai Vi phải gánh vác gia đình, làm lụng vất vả để nuôi sáu miệng ăn. Rồi mùa hè đỏ lửa, cả gia đình gồng gánh nhau chạy vào nam trên đại lộ kinh hoàng. Đến vùng đất tương đối yên lành, gia đình em được hội thánh giúp đỡ tạo dựng cơ nghiệp ở Bình Tuy. Mai Vi và các em theo học ở làng Bồ Câu Trắng, dưới sự chăn dắt của một vị linh mục nhân từ.

Khi Mai Vi nói xong câu chuyện về mình, nét mặt cô bé vẫn bình yên trong một vẻ cam chịu. Nhưng Ly và Quỳnh Mai thì nước mắt ràn rụa. Mai Vi nói bằng giọng Quảng Trị dễ thương:
- Chị Ly biết không, em vào trong ni, có thời gian ở làng Bồ Câu, đọc sách báo nhiều, em mới biết có Tủ sách Tuổi Hoa. Tình cờ một hôm bạn em tặng cho em một quyển truyện của chị, truyện “Khúc lan can gãy”, em cảm thấy em giống như nhân vật người thương binh trong ấy. Em thấy thương mến chị, và em quyết tìm đến chị đấy!
Quỳnh Mai lau nước mắt, gượng cười:
- Còn chị, Mai Vi biết không, hễ chị Ly viết truyện thì chị Mai cảm tác thành thơ. Vậy nên bây giờ ba chị em mình kết nghĩa luôn nhé!
Ly ôm hai cô em gái vào lòng:
- Cám ơn Phật, cám ơn Chúa đã cho chị em mình gặp nhau. Nè, để chị nhờ chú Hai ở nhà in chụp cho chúng mình một tấm ảnh, há!
Khi Ly chạy xuống nhà in rồi trở về phòng, chú Hai sắp chữ cũng lên theo. Ba chị em kết nghĩa đứng bên nhau. Ly làm chị nhưng bé nhỏ hơn cả. Quỳnh Mai làm bộ nhón gót. Còn Mai Vi, trên đôi chân dài bằng gỗ, em là người cao lớn nhất.

***

Quỳnh Mai là cô bé thích làm thơ, những vần thơ ngắn nhưng cô đọng tình cảm của một cô học trò. Quỳnh Mai mơ mộng khi nhìn những con chim nhỏ bay vào những ô cửa lớp rồi lại bay ra; khi nhìn lên trần nhà của lớp học, suy nghĩ về những tổ chim ấm áp được xây trên cánh quạt đã hư. Quỳnh Mai như cô bé bâng khuâng trước viễn ảnh ngày mai sẽ lớn, ngày hồn nhiên sẽ qua, để một chiều một sớm… thấy đời những xót xa… Những vần thơ trong sáng của cô bé được đón nhận với chân tình của độc giả. Và cô bé lại thích làm Ô chữ. Ô chữ, là trò chơi, là tiết mục không thể thiếu trong các tạp chí thiếu nhi. Nhìn Quỳnh Mai cắm cúi làm Ô chữ, cặp kính cận hơi trễ xuống, Ly bật cười. Ly tự hỏi không biết cô bé mũm mĩm này sẽ có được một cuộc sống hồn nhiên và bình dị như những vần thơ của cô hay không.

Còn Mai Vi, không viết văn làm thơ nhưng rất say mê đọc sách. Những năm tháng ấu thơ cô bé sống nhiều dưới hầm hơn là trên mặt đất. Cô bé đến trường học và cả khi ngồi trong lớp cũng luôn sẵn sàng chui xuống hầm. Tuổi nhỏ của Mai Vi có một ngả rẽ hãi hùng là thời điểm tai nạn đến làm em lìa bỏ đôi chân. Sau khi ở bệnh viện về, em vẫn phải ở dưới hầm. Trong nỗi đau đớn của chính mình, em còn phải chứng kiến nỗi đau của bà ngoại. Có một lần bà ngoại nghe tiếng đạn pháo kích ngay gần miệng hầm, bà quên rằng mình không còn đôi chân, bà lao xuống giường để chạy và đã ngất đi vì đau đớn. Em hiểu được cái gì là sự chịu đựng, vâng, chịu đựng đến tê dại.

Từ lúc có Mai Vi, Ly và Quỳnh Mai siêng đến thăm em ở nhà vị bác sĩ người Mỹ giúp em theo dõi vết mổ. Em đã phải qua nhiều cuộc giải phẫu nữa vì xương vẫn tiếp tục phát triển. Xong đợt điều trị, Mai Vi xin về lại Bình Tuy để sống với gia đình và tiếp tục đi học.

Mùa xuân 1975 là mùa xuân cuối cùng của ba chị em kết nghĩa. Hai cô bé mang tên Mai đến rồi đi mất. Những ngày tháng ở lại Việt Nam, Ly không nhận được tin gì của Quỳnh Mai và Mai Vi nữa. Ly đã lạc họ. Không còn nữa khu vườn tuổi trẻ thơm hương của Tuổi Hoa. Tòa soạn đã biến mất. Và những năm sau đó, khu vực nhà in biến thành một nhà quàn để tổ chức tang lễ. Những lần đi ngang đó, Ly ngừng lại, lang thang tìm một chút gì quen thuộc. Chú Hai và những người thợ cần cù trong nhà in, bây giờ chắc đã đi tứ tán để tìm phương kế sinh nhai nơi đâu không biết. Bên nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, vẫn vang lời kinh cầu, vẫn có những người đứng yên lặng thầm khấn nguyện trước tượng Đức Mẹ, vẫn có những bó hoa tươi bình an nép bên chân tượng, vẫn có những tấm biển nho nhỏ ghi dòng chữ “Tạ Ơn Đức Mẹ”; nhưng bên này, tòa soạn Tuổi Hoa, như thể chưa từng đã có. Cha Chân Tín còn ở lại nhưng Ly không hề gặp Cha bao giờ. Bác Trường Sơn đã ra hải ngoại. Tòa soạn đã đóng cửa. Ly chỉ còn để cái tên “Tuổi Hoa” nằm trong một góc u hoài của trí nhớ. Ly thở dài bước đi. Có lúc như nghe văng vẳng tiếng cười nói trong những chiều thứ bảy vui tươi. Những gương mặt thân quen lướt qua trong đầu: những người còn sống, gặp lại rồi, hay đã xa vời mọi nẻo, cùng những người đã chết, đó là những thi sĩ, văn sĩ học trò ngày nào xếp bút nghiên lên đường chinh chiến….

Những mùa xuân thản nhiên đi qua trong đời. Người đọc không thấy Ly viết gì nữa. Ly vẫn sống đó, nhưng mặc nhiên đã gác bút.

***

Đất Mỹ, lạ, rồi cũng trở thành quen.

Nhiều người sống trên đất Mỹ nhưng xem nơi đó như một người chồng hờ.

Ly không như thế. Ly đến xứ Mỹ như tìm đến một người bạn chưa thân nhưng đã biết. Cũng như trong đời Ly, vốn đã có duyên gặp gỡ với những người bạn dễ thương, như Quỳnh Mai, như Mai Vi, khi gặp nhau là có thể nói chuyện được với nhau vì đã có một cái gì gắn bó rất vô hình. Đất Mỹ không phải là cái cây bằng vàng mà ai cũng có thể vói tay là hái được trái. Đây cũng là nơi đầy những khó khăn thử thách. Những người chấp nhận đánh đổi nhiều thứ chỉ để lấy một thứ đều biết rằng phải vượt qua rất nhiều gian nan. Sống trên đất Mỹ, đặc biệt là ở giai đoạn suy thoái kinh tế, lại càng thấm câu“Xin nhận nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương” (3). Hai mươi mấy năm tưởng không rứt ra được vì muôn ngàn mối ràng buộc, cuối cùng cũng phải chọn rời bỏ quê nhà Việt Nam với lòng nhớ thương ray rứt những người thân yêu. Đến nơi đây, với đôi bàn tay trắng, Ly cùng gia đình tạo dựng lại tất cả. Và đã có một quê hương thứ hai.

Một đôi lần có những người quen hỏi Ly sao không viết lại, vì đâu có gì ngăn trở nữa, Ly mỉm cười: “Vâng, thì viết lại!”. Một chục cái “vâng” như thế rồi chìm luôn. Thảo nào người ta nói muốn sáng tác cần phải có cảm hứng. Ly có một vài bài viết đăng trong tập san của một hội ái hữu cựu học sinh rồi lại chìm nữa. Chẳng lẽ ở cái xứ này người viết sẽ không còn cảm hứng? Ô không! Nhưng… hãy để mọi việc tùy duyên!

Bỗng một hôm Ly tình cờ xem trên một website, truyện của mình được một bạn trẻ đánh máy gửi đăng. Ly vô cùng cảm động. Hóa ra mình cũng có thể vào chơi trong những tòa soạn báo “ảo”! Thấy các bạn đánh máy sai quá nhiều lỗi chính tả, trách làm sao được vì có lẽ bạn học hành ở Mỹ, đánh máy tiếng Việt như thế là quý lắm rồi, Ly cảm thấy mình không thể im lặng như một “người quá cố”, nên bắt đầu tham gia vào các diễn đàn và tự đánh máy lại các truyện của mình ngày xưa, gửi đăng. Ngày xưa, người viết hoặc đánh máy bằng bàn máy đánh chữ, hoặc viết tay, rồi thợ nhà in sắp chữ để in ra, không hề có “file” như bây giờ để có thể muốn gửi đi đâu thì gửi. Vì thế Ly đã phải “gõ” lại toàn bộ những truyện của mình. Không thể ngờ được, những người còn yêu mến sách truyện ngày xưa có rất nhiều. Bỗng dưng như tìm được những khu vườn thân mến, Ly dần dần đăng lại các truyện cũ của mình. Và thật đáng ngạc nhiên, có những người bạn chưa từng có mặt ở tòa báo Tuổi Hoa ngày xưa, nay lại có thành tâm sáng lập Tủ sách Tuổi Hoa Online. Và Tuổi Hoa đã sống lại!

Ly đăng đã gần hết những truyện ngắn, truyện dài của mình. Nhưng chỉ là đăng lại, chứ chưa hề viết lại. Và rồi, đến một hôm, khi đánh máy đến trang cuối cùng của truyện dài bị xuất bản hụt vì nộp cho tòa soạn vào tháng tư 1975, Ly bàng hoàng khi nhìn thấy lại tên của Mai Vi, người em gái đã gợi cho Ly cảm hứng viết nên câu chuyện về những thiên thần nhỏ trong làng cô nhi chiến tranh. Mai Vi ơi! Em đâu rồi? Và Quỳnh Mai nữa… Hơn ba mươi năm, ôi thời gian dài quá! Cuộc sống thăng trầm, con người ly tán, có lúc chị đã quên mất hai em, cũng như đã quên mất nhiều người. Không đâu! Chính xác hơn là, ta đã có lúc không nghĩ về nhau, chứ không phải đã quên nhau! Ly ngồi vào máy, nhắm mắt lại… Ngày xưa, chỉ cần một hình ảnh thoáng qua, chỉ cần một từ ngữ, đủ gợi nên cả một cốt truyện. Bây giờ, làng cô nhi chiến tranh, rồi làng Bồ Câu Trắng, rồi Mai Vi … tất cả cuốn đi như một cơn gió lốc rồi sắp xếp lại, nhưng thành hình ảnh của một Việt Nam sau 1975. Ôi, cảm hứng đã trở về! Ly say sưa viết nên đoạn cuối cho truyện dài tưởng đã chấm dứt hơn ba mươi năm trước. Ưu tiên dành đăng là cho Tủ Sách Tuổi Hoa Online, khu vườn làm sống lại những bông hoa tưởng đã úa tàn. Và thật vui mừng, truyện dài xuất bản hụt của Ly giờ đây lại được họa sĩ Vi Vi vẽ cho một hình bìa. Người họa sĩ tài ba của Tuổi Hoa, của thiếu nhi và những cô bé cậu bé mộng mơ, giờ đây đang sống ở nơi ví như một Cà Mau của Hoa Kỳ, chỉ trong vài phút đã vẽ nên một hình bìa, không bằng ngọn bút lông, mà bằng computer.

Cơ duyên lại dẫn Ly đến với Việt Báo Online, với mục “Viết về nước Mỹ”. Ly đã có cảm hứng để viết về những mảnh đời sống trên đất nước này, trong đó có mình. Khác với ngày xưa, khi gửi bài là Ly cầm trao thẳng cho bác chủ bút. Còn báo “ảo” bây giờ, Ly chỉ cần một động tác là “attach” và một “cú click” thế là không cần tốn mấy con tem và cái bì thư. Ban biên tập cũng “ảo” nốt! Nhưng không! Thế giới “ảo” nhưng con người là thật. Ly nhận được email của ban biên tập khuyến khích Ly viết tiếp. Ly trả lời thư, cám ơn Việt Báo đã cho cây bút Ly có nơi chốn để tìm về. Vâng, không phải là “đến”, mà như đã “tìm về”. Thế thôi, ngoài ra Ly không có ước muốn nào khác.

***

Lại sắp đến mùa xuân!

Ly không có thói quen mỗi mùa xuân lại than thở mình bị chồng thêm một tuổi, nhưng hay tưởng nhớ đến những kỷ niệm đã qua. Thêm một điều: sống ở mảnh đất này, hình như Ly cũng học được cách tạo cho mình tinh thần lạc quan và truyền cái lạc quan cho người khác như truyền một loại “virus”.

“Mùa xuân sắp đến!” Nếu không có lời nhắc nhở này, Ly sẽ không nghĩ đến một quán tính hồ như đã bị lãng quên từ lâu: viết bài báo xuân. Bây giờ Ly không còn có căn phòng nhỏ trong tòa soạn, không còn có những đồng nghiệp, những anh chị em viết văn làm thơ, những bạn đọc, những người thợ cần cù trong nhà in… Tất cả bây giờ nhường cho thế giới “ảo”. Ly hình dung những con người thật, cũng đang miệt mài viết lách, cũng đang chạy đua cho kịp thời gian “ra báo”. Ôi! Thật là sinh động! Thế nhưng sẽ viết gì cho mùa xuân này đây? Chưa biết nữa! Nhưng Ly sẽ viết, như một cách cám ơn mảnh đất, khu vườn đã cho mình có nơi trồng những bông hoa.

Một buổi tối, Ly nhận được một cú điện thoại…
- Chị Ly! Em đây, Quỳnh Mai đây!
- Quỳnh Mai? Là Quỳnh Mai sao? Thật không?
- Thật, chị ơi!
- Em đang ở đâu? Làm sao em tìm ra chị?
- Em đang ở Ohio. Chị không biết em ra sao, nhưng em thì biết chị đã qua Mỹ, nhờ em đọc bài của chị trên Việt Báo. Em mừng lắm, biết đây chính là chị Ly của em rồi! Em biết rằng chị đã qua định cư ở đây. Em đã vào internet tìm ra số điện thoại của chị nè, hay không?
- Hay quá! Nhưng bao lâu nay, em làm gì?
- Năm 87 em vượt biên, chị ạ! Chị không ngờ đâu, con nhỏ Quỳnh Mai hí hửng nhỏ tí teo của chị lại hứng chịu nhiều nỗi khó khăn hiểm nghèo trên biển, nhưng nhờ ơn Trời Phật, em đã vượt qua hết chị ơi!
- Em giỏi quá! Chị mừng lắm! Hãy nói cho chị nghe từ đó đến nay em đã làm gì?
- Đầu tiên em làm việc thiện nguyện chị ạ! Ở Pulau Bidong, Mã Lai, em làm nhân viên thống kê cho trại, rồi chuyển sang Sungei Besi, em làm việc tại văn phòng trợ giúp người tàn tật, rồi sang Bataan học sáu tháng để đi định cư ở Mỹ. Tại Bataan em cũng giúp việc thiện nguyện làm trợ giáo và phụ tá cán sự xã hội, thăm hỏi và giúp đỡ các trại viên gặp khó khăn.
- Ôi! Em thật giỏi! Bây giờ em ra sao?
- Em đã có gia đình và có hai con rồi chị ạ. Bây giờ em và ông xã lo “đi cày” nuôi con.
- Chị cám ơn Trời Phật đã giúp chị em mình tìm lại nhau. Có khi mình đã quên bẵng nhau. Nhưng chị vẫn luôn nhớ đến em, đến mọi người ở Tuổi Hoa.
- Các anh chị ở Tuổi Hoa thế nào rồi hở chị?
- Thầy Hoàng Đăng Cấp, anh Hà Tĩnh, anh Trinh Chí và rất nhiều người còn ở lại Việt Nam. Anh Trinh Chí vừa mới mất vì bạo bệnh. Anh Quyên Di, anh Vi Vi đã yên ổn ở Hoa Kỳ. Còn nhiều nữa, những người viết cho Tuổi Hoa, người đi kẻ ở, chị không biết hết…
Cả hai chị em cùng im lặng. Ly đoán rằng ở đầu dây bên kia, Quỳnh Mai hẳn cũng đang bùi ngùi như Ly, mường tượng ra cảnh thân ái ở tòa soạn Tuổi Hoa. Ngày xưa thoáng qua như một cái bóng, thật không ngờ đã 35 năm!

Giọng Quỳnh Mai nghe ray rứt:
- Còn Mai Vi nữa, phải không chị? Em không biết Mai Vi ra sao. Những lúc ở đảo, em cũng có ý tìm kiếm Mai Vi, hy vọng gặp được em ấy trong số những người tị nạn. Nhưng…

***

Một tuần lễ sau, Ly nhận được hai bức email chuyển đến từ hai người bạn phụ trách website Tủ Sách Tuổi Hoa Online. Email của Mai Vi! Ly không tin vào mắt mình. Ly còn lẩm cẩm tự hỏi Mai Vi nào đây? Chẳng lẽ lại là một Mai Vi khác?
- A lô! Mai Vi!
- Chị Ly, em đây!
- Là em… là Mai Vi hở? Là Mai Vi của Làng Bồ Câu Trắng?...
- Dạ phải. Chị nghe giọng nói mà không nhận ra em sao?
- Giọng Quảng Trị… Chị nhận ra chứ! Nhưng chị không tin…
- Em được bảo lãnh qua Mỹ năm 90. Chị biết không, khi Làng Bồ Câu Trắng giải tán, em thôi học, sống với gia đình và làm nhiều nghề thủ công để sinh sống. Ngoại em ở lại và đã mất rồi chị ạ! Em đi với mẹ và các em của em.
- Em… ra sao rồi?
- Em đang ở Seattle. Em đã có gia đình, có một đứa con gái mười lăm tuổi. Cháu ngoan lắm, nói tiếng Việt rất rành. Anh nhà em thương em lắm chị ơi! Em đang sống rất hạnh phúc.
- Cám ơn Chúa!!! Chị sẽ đi thăm em, có cả Quỳnh Mai nữa.
- Ôi, hay quá! Chị cũng đã tìm lại Quỳnh Mai sao? Ba chị em mình sẽ gặp nhau!
- Nhưng em hãy nói cho chị biết, làm sao em tìm ra chị?
- Thật là may mắn. Em đọc báo Mục Vụ, một hôm thấy bài đăng nhân lễ Vu Lan, viết về tâm tình của người mẹ, nhìn tên tác giả em biết ngay đó là chị. Theo đường dẫn vào website Tủ Sách Tuổi Hoa, em viết email cho hai anh chị phụ trách để nhờ chuyển thư em đến chị.
- Nhưng báo Mục Vụ làm sao có bài của chị mà đăng?
- Một độc giả ở Thụy Sĩ trích bài của chị từ Việt Báo Online và gửi cho Mục Vụ để chia sẻ nhân mùa Vu Lan nên em đọc được. Chị thấy hay ghê không? Mục Vụ là báo của Công giáo, và là báo in đó chị!
- Ôi, như vậy là bài đã đi vòng một đoạn đường dài!
- Thật là vui, phải không chị?
- Thật là kỳ diệu! Mai Vi ơi! Còn… đôi chân của em..?
- Vẫn nhức nhối chị ạ! Đến mùa lạnh là em đau thấu tới trong xương. Đêm ngủ em vẫn thường gặp ác mộng. Nhưng tình yêu gia đình đã giúp em sống vui. Bây giờ em không đi chân giả nữa vì nó nặng nề quá, em dùng chiếc xe lăn và làm mọi công việc trong nhà rất tốt. Em cũng đi đây đi đó để thưởng thức cuộc sống. Chị ơi! Hãy mừng cho em, chị nhé!

alt

Mùa xuân, ở đất Mỹ khó tìm thấy một cành mai. Nhưng mùa xuân này Ly đã có Quỳnh Mai và Mai Vi, hai người em tinh thần, nhờ thế giới báo “ảo” , và báo “thật”, Ly đã tìm lại. Chị em mình sẽ gặp nhau, năm 2010, hai em nhé! Mai vẫn nở!

Mùa Xuân 2010

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

Báo Xuân Nhâm Dần 2010

Sách "Viết Về Nước Mỹ 2010" do Việt Báo xuất bản

Chú thích:
(1): thầy cò: corrector, người sửa lỗi sắp chữ trong nhà in
(2): bản vỗ: proof
(3): “Xin nhận nơi này làm quê hương”, nhạc Nguyễn Đức Quang

 

Bản dịch Anh ngữ

In Spring, Mai is still blooming

Author’s note: The names of the main characters in this story have been changed. Any resemblance to persons is purely coincidental. We beg the readers’ sympathies.

******

The lovely garden, Tuoi Hoa, where young writers were fostered, was located modestly next to Ky Dong Church on Ky Dong street in Saigon. Despite a busy and crowded street outside, the church precinct was quite peaceful.

If Ly wanted to enter the editorial office of Tuoi Hoa, she had to go through Duc Me bookstore to a short corridor. Ly knocked on the door of the first room and stealthily stucked her head in. Seeing Father Chan Tin, the director of the magazine, Ly said hello to him. Father Chan Tin, with a very gentle smile, always inquired after her. Then Ly went to salute Uncle Truong Son, the editor-in-chief, and received a mass of letters to take to her small office. Uncle Truong Son looked solemn, but was always ready to smile affectionately to Ly and showed her necessary tasks. Going to school in the morning, being the secretary in the afternoon, and also being the corrector at Tuoi Hoa, Ly felt so happy.

After having completed her work in the afternoon, Ly often wandered in the church area. She did not go inside the church, but stopped in front of the stone grotto where the Mother Mary statue stood. People brought bouquets of fresh flowers and arranged them solemnly around the statue base, next to small plates with the words: “Thank you, Mother Mary!”  What a nice and peaceful space! Ly sank her soul deep into the prayers.

Back in the day, whenever Uncle Truong Son asked Ly to write an article, her ideas overflowed in her mind. Especially at the approach of New Year, the bustling atmosphere of the editorial office made her more inspired. At that time, Ly wrote enthusiastically. She wrote as if she breathed. Almost just an image gliding past, even in her thought, or just a word, could prompt the entire story. Teen readers who came to the editorial office every Saturday afternoon, often asked questions to Ly, such as: "Are the stories you wrote true or fictional?” Ly always provided an immediate, honest response: "True and… fictional." Because of this, Ly had very nice fans coming to meet and talk to her regularly. The life of a high school student and that of a university student seemed to be peaceful with articles regularly posted on the semi-monthly magazine, and sometimes a novel written for young dreamers. In addition, she had another part of life: doing volunteer work, which she also included in her writings. Very simple, it really was!

Among her closest friends, there was little poetess Quynh Mai. The near-sighted glasses sticking on her plump face made Quynh Mai look humorously cute. Quynh Mai often came to the office, talked a little and sat quietly and read the printed pages where Ly was making corrections. Technical terms for them were “proofs,” drafts to be corrected on spelling mistakes or misused words, if any. When the typesetters corrected these errors and the drafts looked perfect, they would do the final printing and then issue the magazines. Quynh Mai also asked Uncle Truong Son to allow her to go after Ly to the print shop watching the huge printing machines, the battering sound of which rumbled drowned all the voices; then she looked at lofty piles of magazine, big wooden boxes full of tiny type blocks, each kind in its own box; then to the area of backing, trimming… Oh dear, what busy work in the print-shop! Quynh Mai was so surprised. She looked at her “Sis Ly" with entire admiration but Ly became used to it. Maybe on the first day when she accepted the job of “correctrice”, Ly looked bewildered. Learning gradually would make everything okay. In the editorial office, Ly was the youngest; but for younger readers at the same age as Quynh Mai, Ly was their older sister. Besides being “correctrice”, Ly helped the editor reply to readers’ letters, arrange articles, but writing was the most important to her.

One spring, the editorial office was busier than usual as they were preparing for the issue of “Tet”. The small room in which Ly worked every afternoon was used as the meeting room. The people in charge of the regular columns of the semi-monthly magazine Tuoi Hoa were Ha Tinh, Quyen Di, Trinh Chi, Vi Vi the painter, teacher Hoang Dang Cap …, each one had his own style. Quyen Di was graceful, Ha Tinh was level-headed, Trinh Chi was light-hearted, teacher Hoang Dang Cap spoke quickly and was a very good storyteller, and Vi Vi was lively, thoughtful and always skillful with his painting brush. Besides, there were other young collaborators gathering in Ly’s small room, giving compliments to each other and joyfully discussing together. On this occasion, Ly also handed them readers’ letters. Then they shared many happy things. When it was almost evening,  everyone had left except Quynh Mai staying with Ly to help her to clean the room, then they had a new guest: a little girl!

**

Mai Vi was seven years younger than Ly. When Mai Vi announced her name, Ly immediately knew that she was the teen readers who wrote to Ly last week to make her acquaintance. And now they were acquainted with each other. They saluted each other as if they had been friends for a long time. Of course, Quynh Mai had a chance to meet a friend. The two girls shared the same name, Mai. Perhaps there were no formal words for those young friends, so all of them started chatting quickly. Each person narrated her own story and asked about the others. For Ly and Quynh Mai, life was quite peaceful: born, raised and educated in an urban area. In contrast, Mai Vi had a very hard life. Her gruesome childhood was spent in a small village of Dong Ha district, in Quang Tri province of the border area. At eight years old, she suffered a heart-breaking disaster. The local church crowded with parishioners holding the ceremony was shelled from “the other side”. Mai Vi and her grandmother lost both of their legs by shell fragments. Mai Vi’s widowed mother had to raise the family and work hard to feed six mouths. When Fiery Red Summer came, her family ran to the south on Horror Avenue. Arriving at a relatively safer area, they were helped by a Catholic society to build a new life in Binh Tuy province. Mai Vi and her younger siblings attended schools in White Pigeon Village, under the teachings of a benevolent priest.

When Mai Vi finished telling her story, her face looked still peaceful with resignation but Ly and Quynh Mai were bathed in tears. Mai Vi said with Quang Tri nice tone:
“You know, Ly, when I was in White Pigeon Village, I had lots of time to read, so I knew Tu Sach Tuoi Hoa. One day my friend accidentally gave me a book written by you, the novel "The Broken Balcony". I felt as if I were like the wounded soldier in it. I felt I loved you, and I decided to come to see you.”
Quynh Mai wiped her tears, smiling unnaturally:
“As for me, you know, Mai Vi, whenever Ly wrote a story, I had an inspiration to versify. So now we are sisters, okay?”
Ly hugged her sisters and said:
“Thanks Buddha, Thanks God for bringing us together. Now, I will go to the print shop to ask Uncle Hai to take a picture of us.”

When Ly ran down to the print shop and then back, Uncle Hai, the typesetter, followed her. The three sisters stood side by side. Ly, the oldest, was the smallest; Quynh Mai pretended to stand on tiptoe; and Mai Vi, on her wooden legs, was the tallest.

**

Quynh Mai liked to write poems. Her short poems expressed the feelings of a little schoolgirl. Quynh Mai daydreamed while looking at little birds flying into the classroom windows and then out, while staring at the ceiling, thinking about the warm bird nests built on broken propellers. Quynh Mai was like a young girl wondering about her perspective when she grew up, being no more spontaneous, soon… finding life so troubled. Her bright poems were sincerely welcomed by readers. She liked to play crossword puzzle, too. That was a game, an indispensable column in children's magazines. Looking at Quynh Mai playing crossword puzzle at full stretch, with the near-sighted glasses sagging a little, Ly bursted out laughing. She wondered whether this chubby girl would lead a life as simple and unaffected as her poetry was.

As for Mai Vi, she didn’t write stories or poems, but she was very fond of reading. During her childhood, she lived underground more than on the ground. She went to school, and even while sitting in class, she was always ready to run down the shelter-pit. There was a turning point in her childhood when the catastrophe happened and she lost her legs. After leaving the hospital, she still had to stay underground. Beside her own pain, she had to witness her grandmother’s. One day her grandma heard the sound of shelling shots near the shelter-pit, she plunged out of bed in order to run, forgetting that she had lost her legs. She fainted with pain. She understood what suffering was, yes, suffering to be numbed.

Since meeting with Mai Vi, Quynh Mai and Ly used to visit her at the home of the American doctor who monitored her incision. Mai Vi had to undergo many surgeries because her bone continued to grow. After a number of treatments, she was allowed to go back to to Binh Tuy to live with her family and go to school.

The Spring of 1975 was their last spring. The two girls named Mai had come and gone. During her stay in Vietnam, Ly had no news about Quynh Mai and Mai Vi. She lost them. There was no longer Tuoi Hoa, the fragrant garden of youth. The editorial office had disappeared. In the years later, the print shop was turned into a funeral home. Whenever passing there, Ly stopped, wandered for a while to look for something familiar. Maybe Uncle Hai and the diligent workers in the print shop were dispersing somewhere for their living, nobody knew. From Ky Dong Church, the prayers still resounded. There were people who stood silently praying in front of the statue of Mother Mary. There were bouquets of fresh flowers leaning against the statue base. There were small plates with the words "Thank you, Mother Mary!"… But here, it seemed like the editorial office of Tuoi Hoa had never existed. Uncle Truong Son had gone overseas. The office was closed. Ly only left the name "Tuoi Hoa" in a sorrowful corner of memory. She sighed while walking. Sometimes she imagined a far-away voice like that of the joyful people visiting the office on Saturday afternoons. Familiar faces glided in her mind: those who were alive, having met her, or already been far everywhere, and those who were dead, the young poets and writers leaving school to take part in war…  

Springs calmly went through life. Readers did not see her writings any more. Ly was still alive, but implicitly stopped writing.

**

American land was strange, but then became familiar.

Many people were living in this land but considered it a dummy husband. Ly did not. She came to the U.S. as if she came to a friend, not close but already known. As in her life, a natural bond had brought nice friends as Quynh Mai and Mai Vi to her, so when they met they immediately talked with one another as if invisible strings were linking them together. American land was not a golden tree where everyone could reach out and pick the fruits. This place was full of challenges. Those who accepted to lose many things only to get one thing knew that they must overcome countless difficulties. Living in America, especially in the time of economic recession, they completely understood the lyric "Please accept this place as your home despite difficulties" (1). Living in Vietnam for more than twenty years, she had to leave her beloved country and her loved ones, whom she would always miss. Arriving here with empty hands, Ly and her family rebuilt everything. And then they had their second home: America.

Sometimes Ly’s friends asked her why she did not write again because there was nothing stopping her. Ly smiled and said: "All right, then I’m writing!" But her inability to write resulted from a lack of inspiration. No wonder people said that we needed inspiration to create something. Ly had published several articles in the journal of an alumnae high school association and then the inspirations sank again. Would the writers in this country really have no inspiration? Oh no! However, let all be natural!

One day, Ly accidentally read her novel on a website, typed and published by a certain young blogger. Ly was extremely touched. She turned out to be able to join the “virtual” editorial offices! Noticing that there were many spelling mistakes (nothing to blame because the typist was probably educated in the U.S. and so good to type such Vietnamese), Ly felt that she could not be silent as the "deceased”, so she started to participate in the forums, typing her old writings and publishing them. In former times, authors either typed on a typewriter, or wrote, then workers at print-shops typeset and printed the stories. There was no "file" like that from the computer to be ready to send anywhere they wanted. So Ly had to "strike" to save all her writings. It was unpredictable that there were still readers loving old books and journals. Like a person finding her beloved gardens, she gradually posted her old articles. Surprisingly, there were friends who had never been at former Tuoi Hoa who now wanted to create Tu Sach Tuoi Hoa Online. Tuoi Hoa was revived!

Ly had posted almost all her short stories and novels. However, it was just posting, not writing yet. And one day, while typing the last page of the novel submitted to the editorial in April 1975 that never published, Ly was shocked to see the name of Mai Vi, the young sister who had prompted the inspiration for her to write the story about little angels in a village of war orphans. Mai Vi! Where are you? And Quynh Mai! It had been more than thirty years, what a very long time! In the wheels of life, people separated, and it seemed she had forgotten her adopted sisters as well as many others. Oh, no! Sometimes the sisters did not think about one another but it did not mean they have forgotten them. Ly sat before the computer, closed her eyes… In the old days, just a fleeting image, just a word, enough to suggest a plot. Now, the war orphanage, then White Pigeon Village, then Mai Vi ... all swept away as a gust of wind and then rearranged, but into the image of a “Vietnam after 1975”. Oh, the inspiration had returned! Ly wrote passionately the concluding part of the novel thought to have ended over thirty years ago. Top priority was given to Tuoi Hoa Online, the garden reviving the flowers believed to wither. And so happily, she had a painting for her published novel manqué painted by Vi Vi, who gave it to her to use for the cover of the book. The talented artist of Tuoi Hoa, of the kids and daydreaming boys and girls, now living in an area like an American Ca Mau, in only a few minutes finished a picture, not with a painting brush, but on computer.

Good chance led Ly to Viet Bao Online, with the comlumn "Writing On America".  Ly was inspired to write about lives in this country, including hers. Unlike in the old days when she had to hand the papers directly to the editor-in-chief , now with “virtual” journal, she needed just very simple steps: “attach” then “click”, so there was no stamp nor envelope needed. The Editorial Board was "virtual" too. No! In “virtual" world, people were real. Ly received the editor's email encouraging her to continue writing. She replied, thanking Viet Bao for giving her a place to come back. Well, not "to come to", but "to come back". That’s all. She had no other desire.

******

One more spring was coming!

It was not Ly’s custom to complain about being one year older when spring came. But she used to recall memories. One more thing: living in this land, it seemed that she learned to create the spirit of optimism for herself and transfer her positivity to others like spreading a kind of "virus".

"Spring’s coming!" Without this reminder, Ly would not think of an inertia forgotten long ago: writing for “Tet”. Now Ly no longer had the small room in the editorial office. There were no more colleagues, no more writers, no more readers, no more deligent workers in the print-shop… All gave up their place to the "virtual" world. Ly imagined real people, being wrapped up in writing, being rushed to be on time for the issue. Oh! It was so lively! But what would be written for this spring? She didn’t know. But she would write, as a way to give thanks to the land, the garden where she grew her flowers.

One night, Ly received a phone call ...
 “Hello Ly! This is Quynh Mai.”
 “Quynh Mai? Are you Quynh Mai? Really?”
 “Yes!”
 “Where are you? How did you find me?”
 “I'm in Ohio. You don’t know about my life, but I know that you’ve come to the U.S. because I read your article on Viet Bao. I am so happy knowing that you are the author. I also know that you have settled here. I searched the internet for your phone number.”
“Good! What have you done since that day?”
“I crossed the border in 1987. You never know, your little active Quynh Mai faced so much difficulty and danger in the sea. Thanks Buddha, I have overcome all."
 “You are brave! I’m so happy. Now tell me what happened since you fled.”

“First I volunteered my services for relief work. In Pulau Bidong, Malaysia, I was a statistician for the camp, then moved to Sungei Besi where I worked in the office of disability supportive service, then to Bataan to attend a six-month course to settle in America. I was also a volunteer in Bataan as a tutor and a social worker assistant, visiting and helping the inmates in need.”
“Oh! You're good! Now how are you?”

“I’m good. I’m married and have two children. Now my husband and I work hard to raise the kids.”
“Thanks God for helping us find each other. Sometimes it seemed I have entirely forgotten you. But I always remembered you and everyone of Tuoi Hoa.”
“How are they?”  
“Teacher Hoang Dang Cap, Ha Tinh, Trinh Chi and many of our friends are still in Vietnam. Trinh Chi passed away from a fatal illness. Quyen Di and Vi Vi are in the United States. Many more people, writers of Tuoi Hoa, who stay in Vietnam or escape to a better life, I don’t know...”
Both the two sisters were silent. Ly guessed that on the other end of the phone, Quynh Mai must be also like her, imagining the warm scene at Tuoi Hoa editorial office. Olden times passed like a shadow, nobody thought 35 years had elapsed!

Quynh Mai’s voice sounded anxious:
- And Mai Vi, we don’t know how she is now. While being in the island, I also intended to look for her, hoping to find her among the refugees. But ...

 

alt

 

**

A week later, Ly received two e-mails forwarded by the two friends hosting the Tuoi Hoa Online website. Those were Mai Vi's e-mails! Ly did not believe her eyes. Besides, an absent-minded Ly wondered which Mai Vi this was. Was it possible another Mai Vi?  
- “Hello Mai Vi!”
- “Hello Ly, this is Mai Vi.”
- “It’s you? It’s Mai Vi? It’s Mai Vi of White Pigeon Village?”
- “Yes. Don’t you recognize my voice?”
- “I do. I hear your voice, your nice Quang Tri accent, but I can’t  believe...”
- “I was sponsored by the U.S. government in 1990. You know, when White Pigeon Village dissolved, I dropped out of school, lived with my family and made a living from handicraft. I went with my mother, my brothers, and sister. My grandma stayed in Vietnam and she passed away.”
- “And… how are you now?”
- “I'm in Seattle. I married and have a daughter, who is now fifteen-years-old. She’s very good and can speak Vietnamese fluently. My husband loves me so much. I'm very happy.”
- “Thanks God! Quynh Mai and I are going to visit you.”
- “Oh, great! Did you also find Quynh Mai? We the three sisters will meet.”
- “But please tell me how can you find me?”
- “It was very lucky. One day I read a short story about a mother’s confidence in Muc Vu magazine. Seeing the author’s name, I was sure that was you.  I followed the link to the website of Tu Sach Tuoi Hoa, then wrote to the two hosts, asking them to forward my e-mails to you.”
- “But how did Muc Vu magazine have my writings?”
- “A reader in Switzerland took your article from Viet Bao Online and sent it to Muc Vu to share the meaning of Vu Lan so I could read it. You find it interesting? Muc Vu is a Catholic print magazine.”
- “Oh, so it went a long circle!”
- “It's merry, isn’t it?”
- “It's miraculous! Mai Vi, and… how about your legs?”
- “Still so painful. I feel the pain piercing to the bone in the cold season. When I go to bed I often have nightmares. However, the family love has helped me to live in joy. Now I no longer wear prosthetic legs because they are so heavy. I use a wheelchair and do all the  housework very well. I also go here and there to enjoy life. Rejoice for that, my dear sister!”

In spring, it was hard to find a branch of apricot blossom in America. This spring Ly had Quynh Mai and Mai Vi, her two sisters, whom Ly found, thanks to "virtual" world and "real" media.

“We are meeting together in 2010, my sisters! Mai (2) is still blooming!”

Spring 2010

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

"Writing On America", published in 2010 by Viet Bao

 

Author's notes:

(1): “Xin nhận nơi này làm quê hương”, composed by  Nguyen Duc Quang

(2): Mai: apricot blossom

 

 

 

 

 

 

 

 

alt

1

Ba giao cho tôi công việc để làm:
- Con trai làm chuyện này hợp nè!
- Cái gì vậy Ba?
- Xếp giùm Ba mười lăm khối vàng bạc, tám bạc, bảy vàng.
- Sao phải mười lăm? Rồi sao phải tám bạc bảy vàng hở Ba?
Ba cười vang:
- Cái thằng dốt toán! Lấy giấy bút đưa đây, Ba giảng cho nghe!
Gì chứ cái sự vẽ vời là tôi thích nhất, hơn nữa việc này sẽ làm chậm lại một chút cái việc mà Ba định giao. Tôi chẳng là cái thằng mê ăn biếng làm, như câu mắng yêu của Ba Má tôi đó sao? Tôi lấy giấy bút đưa cho Ba. Ba cầm bút vẽ lên tờ giấy một mô hình. Ồ, giản dị quá! Tôi hiểu ra liền. Ba tượng trưng mỗi khối vàng bạc bằng một hình vuông, đó là cái đáy của khối, và sắp xếp thành năm tầng. Tầng dưới cùng có năm khối, tầng kế có bốn, tầng trên nữa có ba, rồi hai, rồi một ở trên chóp. Và vì Ba cho xen kẽ vàng và bạc nên cuối cùng tôi đếm ra có tám thỏi bạc và bảy thỏi vàng. Tôi thích thú. Ba lấy các tờ giấy vàng và bạc, loại giấy Má mua để cúng ông bà, và Ba dạy tôi xếp. Tôi cũng khá thông minh đấy chứ! Cho nên chỉ qua lời hướng dẫn của Ba, xếp thế này, thế này… là tôi đã xếp được những thỏi vàng và bạc ngay ngắn đẹp đẽ… như thật. Tôi thì làm, còn Ba chỉ nói thôi. Ba không có đủ tay để xếp giấy như tôi.

Khi đã hoàn thành một đĩa vàng bạc thật đẹp, hai cha con nghiêng đầu ngắm. Ba bưng đĩa vàng bạc đặt lên bàn thờ ông bà. Ba nói:
- Thật ra mỗi năm đến Tết Ba Má đều xếp vàng bạc để cúng và đặc biệt nhớ tới ông bà và cha mẹ, chứ mình không có tin dị đoan con ạ! Người chết là hết, vàng bạc đối với họ đâu có ý nghĩa gì! Ý nghĩa là với người sống thôi! Sống sao cho đẹp, đó là mình đã làm cho họ vui lòng.
Ba hay nói như vậy đó, đối với tôi không lạ. Đôi khi tôi cũng có một cái gì chưa đồng ý với Ba lắm, nhưng tôi không cãi. Tôi, dưới mắt của Ba Má, là một đứa bé khá ngoan. “Khá ngoan” thôi, có nghĩa là chưa ngoan lắm. Vì nhiều khi tôi cũng tỏ ra bướng bỉnh, không làm đúng lời Ba Má bảo.

Tết năm nay, tôi lên mười. Chà, nghe có vẻ “lớn” lắm rồi đấy! “Lên mười”! Tôi cũng học cách nói này theo sách vở, nghe hay hay, hơn là nói “tôi mười tuổi”. Lên mười, tôi thích khám phá những trò chơi mới. Tôi là con một, nên dù sao tôi cũng có chút sung sướng hơn mấy đứa bạn tôi có anh chị em. Và mặc dù nhà tôi không giàu, Ba Má vẫn mua sắm tương đối đầy đủ cho tôi những thứ cần thiết. Quần áo, sách vở, dụng cụ học sinh… tôi không thiếu. Duy có một điều là tôi không được Ba Má mua cho những đồ chơi điện tử. Nhất là mấy cái “game”, tôi thèm thuồng lắm nhưng có được đâu! Ba nói chơi “game” mất thì giờ không học hành được. Nhưng tôi hiểu, ngoài lý do đó, còn có lý do là Ba Má không đủ tiền để mua những bộ “game” cho tôi. “Game” đổi mới liên tục, có mua cũng không chạy theo kịp. Tôi đành làm đứa trẻ ngoan, không dám xin xỏ gì nữa.

“Lên mười”! Hình như cái con số tròn trịa này làm cho tôi cảm thấy có một cái gì rất quan trọng đối với tôi. Tôi nghe mình đã hơi “lớn lớn” rồi đấy! Tôi lên mười và sắp “tốt nghiệp” tiểu học. Tôi lên mười và được Ba Má giao làm một số công việc trong nhà. Tôi lên mười và Má thì hay khuyến khích tôi ăn nhiều cho mau lớn, cho học giỏi, “ăn vóc học hay”. Tôi lên mười và được Ba kể cho nghe một vài câu chuyện bắt đầu bằng chữ “Hồi đó…”

Hồi đó Ba không biết đến những trò chơi điện tử như bây giờ. Để xem, trò chơi Ba hay chơi nhất là ném lon hay còn gọi là “tạt lon”. Tay cầm một chiếc dép, ném ngang theo cạnh của chiếc dép, sao cho trúng cái lon là thắng. Dễ ợt! Tôi cười và nói môn bowling khó hơn nhiều. Ba cười: “Có một tay thì chơi tạt lon thôi!”

Hồi đó Ba đi học trễ lắm, mười lăm tuổi mới học lớp Năm. Thật ra thì Ba đi học đúng tuổi như các bạn vậy, nhưng có một thời gian Ba không được đến trường. Ba phải làm lụng để nuôi ông nội và một đứa em. Sau này Ba mới được nhà chùa giúp đỡ và Ba đi học tiếp lớp Năm và lên hết trung học. Tôi nhìn Ba với vẻ nể phục cộng với sự thương xót. Không ngờ Ba khổ như vậy.

Hồi đó Ba mất cha mẹ sớm, trong chiến tranh. Có lúc Ba bơ vơ, không còn nhớ cái gì là tình gia đình, cái gì là hơi ấm của cha mẹ. Ba đã không còn biết khóc. Ba nói như vậy và Ba ngưng lại, nét mặt Ba cứng ngắc. Nhưng tôi nghe đến đó thì tôi khóc.

Ba thấy tôi khóc thì Ba không kể nữa. Ba dẫn tôi ra sân, nói rằng Ba Má sẽ dành dụm mua cho tôi một bộ “game”, với điều kiện tôi phải luôn luôn học giỏi, đứng hạng cao. Dĩ nhiên là tôi hứa ngay.

2

Ba đón tôi ở trường về. Trẻ em học tiểu học, tức là cấp Một, như tôi, đi học khỏe lắm, vì trường ở rất gần nhà. Trừ khi cha mẹ có tiền nhiều thì chọn những trường sang cho con học, có khi phải đi xa, chứ bọn nhóc như tôi cha mẹ làm không đủ ăn, nên ở đâu thì đã có trường ở đó. Ba hay Má chỉ cần dẫn tôi đi bộ là được. Ba nói khi nào tôi lên trung học thì Ba mua xe đạp cho tôi tự đạp xe đi học. Nhưng không biết đến lúc đó tôi có bạo dạn thêm chút nào hay không, chứ tôi thấy mình hiện tại rất nhát. Không phải tôi không có “chí khí của thằng con trai” đâu, mà là do mỗi lần ra đường, tôi chẳng biết người ta đi theo luật lệ gì nữa. Ái chà, xe chạy ngang chạy dọc, không ai nhường ai, thậm chí có đèn xanh đèn đỏ người ta cũng muốn phá lệ, bên kia vừa mới đèn vàng thì bên này hàng đoàn xe đã vọt lên làm những người đang chạy xe phía kia hết hồn. Nhiều lần Má chở tôi đi chơi hoặc gia đình đi tắc-xi, tôi thấy cảnh đó và sợ lắm! Ba Má cũng đồng ý với tôi là “Sợ thật!”

Tôi nắm tay Ba đi trên lề đường và cảm thấy yên tâm lắm. “Chết rồi!”- tôi tự nghĩ, không lẽ phải có Ba thì tôi mới thấy yên tâm sao? Mai mốt tôi cũng sẽ lớn mà! Tôi len lén đưa mắt nhìn Ba. Tôi nghĩ đến câu chuyện Ba sớm mất cha mẹ, làm tôi rưng rưng. Má cũng vậy, Má mồ côi và sống ở trong chùa. Vậy thì tôi có cả Ba và Má, tôi thấy mình quá may mắn. Ba chắc không biết thằng nhóc đang suy nghĩ lung tung, nên Ba vẫn thản nhiên bước đều và chuẩn bị dắt tôi băng qua đường.

Bỗng có tiếng lao xao ở lề đường bên kia. Hai cha con tôi nhìn qua theo hướng đó. Ba tôi kêu lên một tiếng và dắt tôi bước đến. Một cảnh tượng tôi chưa từng thấy đang diễn ra trước mắt tôi. Một đám đông đang bu quanh một người đàn ông. Người này bị chứng bệnh gì tôi không biết, mà ông đang co giật lăn lộn dưới đất. Mười ngón tay ông nắm chặt lại, vai và cánh tay ông co rút. Chân ông rung thật mạnh. Hai con mắt của ông trợn ngược lên, giống như giận dữ. Nhưng cả gương mặt của ông thì trông như dại đi. Tôi hoảng hồn bấu lấy tay Ba.

Ba bước tới, nói với vài người đàn ông đang cố đè giữ người đang co giật:
- Xin các bạn đừng làm vậy, làm không đúng cách sẽ vô tình khiến cho ông ấy sái khớp hay gãy xương đó!
Và Ba nói với đám đông đang vây quanh:
- Xin bà con vui lòng vãn ra xa một chút, để cho ông ấy thở.

Cơn co giật của ông ấy chỉ có khoảng hai, ba phút mà sao tôi thấy quá lâu. Tôi nén sợ hãi. Nhưng sau đó ông ấy đã có vẻ êm. Ba ngồi xuống bên ông ấy, hỏi thăm vài câu và Ba cũng như yên tâm khi thấy ông ấy cố gắng trả lời được một vài tiếng. Ba cùng một thanh niên đỡ ông ấy ngồi lên, dựa lưng vào bờ rào. Ba hỏi thăm nhà ông ấy ở đâu, ông ấy có thuốc uống không, có cần đến bệnh viện không. Khi ông ấy nói rằng chỉ cần gọi giùm một chiếc xích lô để đưa ông về nhà, Ba hỏi ông có tiền không, ông nói có. Ba liếc nhìn thấy một vài tờ giấy bạc ló ra khỏi túi áo của ông, Ba liền nói:
- Anh hãy đợi, tôi có cái này cho anh.
Rồi Ba lấy trong túi của Ba ra một cái bịch vải nhỏ như cái phong bao lì xì, có dây rút, bảo ông:
- Tặng anh cái túi này, anh bỏ tiền vô đó, rút dây lại rồi cột cho chặt. Sợi dây này dài đủ để anh đeo lên cổ, rồi bỏ vào túi áo. Như vậy nếu anh có bị như hôm nay, anh cũng không lo bị văng tiền ra ngoài. Thời buổi phức tạp, nhiều người lợi dụng lấy tiền của anh thì khổ.
Người đàn ông lắp bắp nói cám ơn. Một người phụ nữ nhanh nhẩu gọi chiếc xích lô. Ba nhờ hai thanh niên đỡ ông ấy lên xe. Hai cha con tôi còn đứng nhìn theo chiếc xe đưa ông ấy đi.

Tôi thắc mắc:
- Sao Ba có cái túi vải đó hay quá vậy Ba? Con đâu có thấy Ba xài. Ai cho Ba cái túi đó vậy?
- À, của một cô bạn hồi Ba mười ba tuổi… tặng cho Ba. Cô bạn may cái túi ấy, may bằng tay con ạ.
- Để Ba đựng tiền hả Ba?
- Ừ.
- Sao bây giờ con không thấy Ba đựng tiền?
- Bây giờ Ba không có tiền.
Thấy tôi ngơ ngác, Ba cười giải thích:
- Tiền đã có Má giữ, Ba cũng đâu có đi làm ngoài đường mà cần giữ tiền. Mỗi ngày đều đã có Má lo rồi. Má phát tiền cho Ba đủ xài trong ngày, đâu có bao nhiêu!
Ba cười vui vẻ. Tôi cũng cười theo. Nhưng tôi vẫn còn thắc mắc về “cô bạn nhỏ” của Ba, đúng ra là “cô bạn hồi Ba còn nhỏ”. Hồi Ba mười ba tuổi. Hồi đó…

3

Ai cũng có một hay vài người bạn thân. Tôi cũng vậy, quá nhiều bạn thân là đằng khác. Tôi có những trò chơi cần chơi nhiều người. Và thân nhiều bạn là vì vậy thôi.

Tôi chưa hề thắc mắc Ba hay Má có bạn thân hay không. Từ nhỏ tôi cứ nghĩ họ chính là bạn thân của nhau rồi. Tôi nghe Ba Má kể rằng hai người đều được nhà chùa nuôi nấng, lớn lên trong chùa và sau này cưới nhau trước sự chứng kiến của nhà chùa. Sau đó họ ra sống tự lập ngoài đời, dĩ nhiên là có sự giúp đỡ ít nhiều của các sư cô.

Ba ngồi nhà dạy kèm học trò nhỏ trong xóm. Rảnh rỗi Ba có viết lách nhưng chỉ như một cách để giải trí. Tôi không nghe nói Ba đăng báo gì cả. Má buôn bán nhỏ ngoài chợ. Hai đầu lương ít ỏi cộng lại cũng đủ nuôi sống một gia đình ba người. Tôi biết thế thôi và cũng có cảm giác mình đã có một gia đình đầy đủ và yên ấm.

Bây giờ thì tôi biết thêm về một cô bạn nhỏ của Ba. Tôi chưa gặp cô ấy bao giờ. Má cũng chưa, nhưng Má hầu như biết hết những chuyện của Ba “hồi đó”. Một người bạn có một món quà nhỏ được giữ gìn kỹ lưỡng. Một món quà được giữ gìn lâu nay lại được người giữ nó đem tặng cho một kẻ xa lạ gặp tình cờ trên đường. Mấy chuyện này quả đã vượt quá óc suy luận đơn sơ của một thằng nhóc như tôi rồi!

Hôm nay đã là ngày hai mươi chín Tết. Ba cùng tôi quét dọn nhà cửa. Ba ngắm nghía bàn thờ ông bà với đĩa vàng bạc hai cha con xếp hôm trước, tỏ vẻ hài lòng. Tôi nói:
- Ba, mình còn chưa có mứt.
- Ừ, chưa có mứt. Nhưng Má nói Má sẽ mua hoặc làm một ít.
- Con thích ăn mứt.
Ba cười:
- Ừ. Con nít đứa nào cũng thích ngọt.
- Ba, con thấy Ba ít ăn ngọt.
Ba lại cười sang sảng:
- Ba bị bệnh tiểu đường mà lị!
Tôi cười theo Ba. Bỗng có một lúc đôi mắt Ba như tối đi. Tôi thấy lạ lắm! Tôi lên mười, chưa bao giờ hỏi han Ba vui hay buồn. Nhưng bất chợt tôi thấy mình đã hơi “lớn lớn”, tôi hỏi:
- Ba buồn hả Ba?
Ba giật mình, nói ngay:
- Buồn gì mà buồn?
Nhưng rồi Ba bảo tôi ngồi bên cạnh Ba, và Ba nói như kể chuyện:
- Ba thích ăn mứt, giống như con vậy. Má lại biết làm mứt, nên nhà mình không bao giờ thiếu món này. Nhưng trong thời thơ ấu của Ba, có những khi Ba thèm một cái gì ngọt mà không có. Con biết không, Ba nghèo lắm, đi bán cà-rem nuôi ông nội của Ba và nuôi một đứa em trai. Gia đình Ba không còn nguyên vẹn. Ba cũng mất một cánh tay trong chiến tranh. Ngày ngày Ba ôm thùng cà-rem có sợi dây đeo trước ngực, đi bán kiếm tiền. Ba có cô bạn nhỏ bằng tuổi Ba, tên cô là cô Tú. Cô ấy đi học về là đến mua cà-rem và nói chuyện với Ba. Ba thì hầu như không bao giờ khóc, con trai mà, nhưng cô Tú thì mau nước mắt lắm. Lần đầu tiên cô nói chuyện với Ba là lúc cô ấy nước mắt nước mũi tèm lem. Người chi mà hay khóc vậy kìa! Nhà cô ấy không giàu, nhưng có đủ cha mẹ chị em. Có cái gì ăn cô ấy cũng đem đến chia xẻ với Ba. Ngày Tết, cô mua hộp mứt cho gia đình, cũng để dành cho Ba một gói nhỏ.
- Bây giờ cô Tú ở đâu, Ba?
- Ba không biết. Ba và cô Tú chỉ làm bạn như hai đứa nhỏ trên đường phố. Ba không biết nhà cô ấy. Cô ấy cũng chưa bao giờ đến nơi Ba tá túc. Rồi sau khi “đổi đời”, cô ấy đi đâu không biết. Dạo đó có những gia đình làm không đủ ăn, dọn đi “vùng kinh tế mới”. Ba đoán nhà cô ấy chắc cũng vậy. Rồi Ba và chú con được một vị sư cô thương hoàn cảnh khó khăn, cho vào chùa nương náu sau khi ông nội của Ba mất. Hai anh em lớn lên trong chùa, cùng với những trẻ mồ côi khác. Trong chùa cũng cực khổ lắm! Mấy đứa nhỏ lúc nào cũng thèm ngọt…
Tự nhiên tôi nuốt nước miếng. Nghĩ đến ngọt thì tôi cũng thèm. Không giấu được cử chỉ đó với Ba. Ba cười:
- Ăn ngọt thì dễ bị mập. Nhưng khi con người ta thiếu ăn, cái thèm đầu tiên là thèm ngọt. Sinh vật nào cũng thế. Nhỏ xíu như con vi trùng cũng tìm cái ngọt ăn trước, mà to tướng như con voi cũng thích ăn ngọt.
Tôi cười khanh khách. Ba dẫn dụ hay thật! Tôi chợt ao ước lớn lên mình sẽ học thật giỏi, tôi sẽ tìm hiểu cái thế giới muôn loài hấp dẫn và thú vị ra sao. Nhưng trong đó, cái thế giới của con người, hình như là rất khó hiểu, và cũng thú vị lắm.
Tôi nêu một thắc mắc:
- Ba ơi, vậy còn cái túi vải nhỏ đó, lúc nào Ba cũng mang theo hả Ba?
- Ừ, chính Má muốn Ba mang theo.
- Chi vậy Ba?
- Để lỡ có tiền nhiều thì bỏ vô đó, rút dây lại.
- Nhưng Ba nói Ba không dùng để đựng tiền…
- Ừ thì tại vì… Ba đâu có còn đi bán cà-rem.
- Nhưng sao Ba lại tặng cho ông kia?
- Ờ… tại vì ông đó tội nghiệp, giống như…
- Giống như ai?
Ba lắc đầu. Chắc Ba nghĩ thằng nhóc bắt đầu hỏi xà quần rồi. Ba xua tay:
- Câu chuyện đến đây tạm ngưng nghe cậu nhóc! Đi xuống bếp giúp Má đi! Mau, ba thương.
Dĩ nhiên là tôi nghe lời. Tôi cũng là đứa bé khá ngoan “mà lị”, nói theo cách của Ba.

4

Hai cha con lên một chiếc xe buýt. Ba tập cho tôi đi xe buýt cho quen, hoặc nếu mai mốt lên cấp Hai có đi học xa một chút thì tôi cũng có thể đi xe buýt đến trường. Ba vốn tính cẩn thận như vậy đó! Dù bận về, chuyến xe có hơi đông người một chút nhưng hai cha con vẫn có chỗ ngồi vì có hai anh lớn hơn tôi đứng dậy nhường cho chúng tôi. Chắc là vì họ thấy Ba chỉ có một tay. Ba cám ơn họ và tỏ vẻ hài lòng. Tôi nhớ bài học “hãy nhường chỗ cho người yếu ớt” ai cũng biết nhưng không mấy khi áp dụng trong những hoàn cảnh mà con người quá đông đúc và ai cũng quá lo cho cái lợi lộc của mình.

Một bà lớn tuổi ngồi bên cạnh Ba, chăm chú xem một quyển sách dày. Bà mỉm cười gật đầu như chào Ba. Ba cười, gật đầu chào lại. Bà khách cúi xuống tiếp tục đọc sách. Khi đến trạm cuối, mọi người lục tục đi xuống. Ba bảo tôi hãy nán chút và xuống sau vì mình không có gì gấp, chỉ là đi dạo chợ Tết và về tới nhà rồi. Bà khách lại mỉm cười chào hai cha con tôi và đi xuống. Khi tôi đứng lên, tôi chợt thấy một cái phong bì nằm trên sàn xe. Tôi chỉ cho Ba thấy. Ba lượm lên. Hai cha con trố mắt khi cầm cái phong bì thấy nặng nặng. Cái phong bì không dán, trong đó, một xấp tiền dầy cộm. Ba nhìn quanh. Hành khách đã xuống xe hết, chỉ còn người tài xế. Ba nói với tôi:
- Í da, hẳn là của bà khách ngồi cạnh Ba hồi nãy…
- Làm sao đây Ba?
- Chắc chắn là của bà ấy rồi! Mình hãy xuống tìm bà ấy.
Không đợi tôi phản ứng, Ba dắt tay tôi đi nhanh xuống khỏi xe. Bà ấy kia kìa! Nhưng bà đã đi khá xa. Ba bảo tôi hãy đi nhanh theo Ba. Chưa bao giờ tôi thấy Ba đi nhanh đến thế. Như chạy. Tôi cũng chạy theo Ba. Trong lúc đó một hình ảnh lướt nhanh qua trí tôi: tôi thấy hai cha con tôi đem cái phong bì tiền ấy về nhà, cùng Má mở ra xem. Ôi một số tiền khá lớn, đủ cho cả nhà tôi sắm Tết và con dư đủ để mua một cái máy chơi “game” cho tôi. Tôi sung sướng lắm!..

Nhưng rồi tiếng gọi của Ba làm tôi giật mình:
- Bà ơi! Bà!
Ba đã đuổi theo kịp bà khách nọ. Thật ra là nhờ bà ấy quay trở lại. Nét mặt bà dáo dác, hớt hải. Ba thở hổn hển, nói:
- Bà! Bà!..
Bà khách nói như reo:
- Ôi! Ông ơi! Tôi phải trở lại xe để tìm gói tiền của tôi. Thật vô ý quá, tôi kẹp trong cuốn sách, rồi chắc là nó rơi ra mà tôi không hay…
Ba hỏi:
- Gói tiền của bà ra sao?
- Là một cái phong bì, ông ạ! Tôi… Ối Trời ơi chắc là mất tiêu rồi, hoặc xe đã chạy mất rồi!...
Ba đưa cái phong bì ra, hỏi:
- Cái này phải không ạ?
- Phải, phải rồi! – Bà khách như rú lên vui mừng – Phước đức quá! Cám ơn ông…
- Cũng may là tôi nghi cái phong bì là của bà.
- Cám ơn ông nhiều lắm! Không có số tiền này, tôi không thể trang trải tiền nằm bệnh viện của mẹ tôi…
- Vậy xin bà hãy cất cho kỹ. Chào bà.
Bà khách như sực tỉnh, nói nhanh:
- Ồ, ông ơi, tôi xin đền ơn ông….
- Không, không, xin bà đừng làm vậy, chúng tôi không nhận đâu! Bà hãy lo công việc của bà.
Bà khách cám ơn rối rít và chào tạm biệt chúng tôi. Tôi cũng chào bà.

Ngõ vào nhà tôi đây rồi! Nhưng chợt tôi nghe có tiếng gì là lạ bên tai. Ba đang đi bỗng nhiên ngồi thụp xuống, như có cái gì kéo Ba sập xuống vậy. Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Ba sao vậy Ba?
Ba đáp yếu ớt:
- Ba … chạy… nhanh… Ba mệt….
Tôi chưa kịp làm gì thì bỗng thấy Ba co giật tay chân nhè nhẹ. Tôi hoảng hồn mếu máo:
- Ba ơi, Ba có sao không?
Ba lắc đầu, lắp bắp nói:
- Ba… không… sao, nhẹ thôi… con à! Đừng… đừng… có… sợ…
Nhưng tôi thật sự sợ lắm! Lần đầu tiên tôi thấy Ba như thế, tuy không dữ dội như người đàn ông hôm trước, nhưng cũng làm tôi kinh ngạc. Ôi, Ba cũng có chứng bệnh này sao???

5

- Phải, Ba đã từng bị chứng động kinh từ hồi đó. Là từ khi Ba mất cha mẹ, Ba mất một cánh tay và Ba bị chấn thương não trong chiến tranh. Ba đã từng đi bán với cái thùng cà-rem đeo trước ngực. Hình ảnh thằng bé cụt một tay bán cà-rem ở dãy phố đó, hầu như ai từng sống ở đấy đều đã biết. Ba bán tàm tạm qua ngày vì ai nhìn thấy thằng bé cũng đều xót thương. Nhưng mỗi một lần thằng bé lên cơn kinh giật thì bao nhiêu tiền bạc nó bỏ trong túi đều rơi ra cả, thế là bọn trẻ con sống lang thang trên hè phố, và có cả người lớn nữa, hè nhau chạy tới lượm hết tiền của nó. Không thương xót. Qua cơn co giật nó lả cả người và đau đớn đến tận xương, miệng khô cổ đắng và tuyệt vọng khi thấy tiền của mình đã bị người ta lượm hết. Quãng đời đó đối với thằng bé thật là cay đắng, mặc dù tên của nó là Ngọt. Vậy mà có một lúc, một cô bạn nhỏ đã đến chia sẻ với nó từng viên kẹo, từng miếng mứt cô để dành cho nó. Khi nó bị chiếm đoạt hết tiền thì cô Tú mảnh mai kia đã hét lớn như một đứa con trai và muốn xông vào đánh những kẻ vô nhân. Và Tú đã may cho Ngọt một cái túi vải để mang vào cổ, rút dây lại sau mỗi khi bỏ tiền. Tú còn dặn sau này khi Ngọt hết bệnh – nếu may ra - thì Ngọt cứ cho người khác, khỏi cần hỏi ý của Tú. Ngọt không có dịp hỏi ý của Tú, vì Tú cùng gia đình đã đi đâu mất tăm. Ngọt may mắn sống trong chùa và được chữa trị bằng một loại thuốc Nam. Thuốc đó phải uống cả đời. Chứng động kinh đã được ngăn chận, thỉnh thoảng vẫn trở lại, nhưng rất hiếm, chỉ còn một hai lần trong một năm. Mỗi lần Ba thấy mình sắp co giật thì Ba vào phòng đóng cửa lại, uống thuốc và ráng chịu đựng. Thằng nhóc tôi chưa bao giờ biết về căn bệnh của Ba. Cái chứng bệnh nghe thì không mấy nguy hiểm nhưng có thể cô lập một con người với cuộc sống. Nhưng mà Ba đã rất may mắn. Vì Ba gặp được những người quá tốt. Ba được trị bệnh bằng thuốc, và bằng cả tình thương nữa.

Ba nói Ba ao ước gặp lại cô Tú, cô bạn nhỏ. Tôi chợt không ao ước có trong tay cái máy chơi “game”, mà tôi cũng mong cả nhà tôi được gặp lại cô Tú. Tôi lên mười, giờ đây hiểu được cái gì ảnh hưởng đến cuộc sống của một con người mạnh mẽ nhất. Đó là những hình ảnh của yêu thương. Ba từ vũng lầy khó thoát của cuộc sống khắc nghiệt, đã vươn lên nhờ những từ tâm. Ba làm gương tốt cho tôi, giúp tôi hiểu thế nào là lòng nhân ái, sự thẳng thắn và nhất là tính không tham lam. Tôi lên mười, chỉ quen viết những bài văn đơn giản, chỉ để nộp cô giáo mà không bị cô chê văn vụng về và cho ít điểm. Nhưng viết về những điều tốt đẹp này, tôi nghĩ tôi cũng “dư sức”.

Má làm cho tôi mứt dừa, mứt bí, mứt hạt sen…, nói chung là đủ loại, mỗi thứ một ít. Riêng Ba có một loại là mứt khổ qua. Eo ơi! Cái loại trái chi mà đắng teo cả lưỡi, tôi nếm một miếng mỗi khi Má nấu canh đã hết hồn. Má nói với Ba:
- Anh ăn đi! Mứt… ngọt lắm!

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Đầu năm 2012

tuoihoa.hatnang.com

 

alt

1

Đến bây giờ Mỵ mới tin là cô giáo lớp mình dữ thật, tụi bạn đồn không sai. Mỵ cứ tưởng là đứa nào lười biếng, hư đốn thì cô mới đánh, đó là chuyện tự nhiên rồi. Nhưng đến sáng nay, lúc tập múa, Mỵ đã thấy cô quất cây thước kẻ vào chân của Thúy Mai, lúc nó múa sai nhịp. Trời ơi, Mỵ sợ quá! Thúy Mai dễ thương như vậy mà còn bị đòn, thì chắc cô cũng không tha gì Mỵ, hay Hương, hay Vũ. Lúc Thúy Mai mếu xệch miệng sắp khóc, cô giáo dịu giọng lại:
- Cô nói thì phải nghe, đừng đùa giỡn trong khi tập. Cô muốn các em đoạt được giải nhất trong kỳ thi văn nghệ này, nên cô mới nghiêm khắc như thế. Ráng tập đi, cô thương! Nào, bắt đầu lại!
Mỵ run run múa theo các bạn. Lời dịu dàng của cô làm Mỵ an tâm. Nhưng cái đôi mắt của Thúy Mai đỏ, đôi môi của Thúy Mai mếu máo, cứ làm cho Mỵ thấy nao nao trong lòng. Ráng tập đi, cô thương. Nhưng … cây thước kẻ của cô, eo ơi, Mỵ sợ quá! Mỵ len lén nhìn cô. Cô đã trở lại vẻ hiền dịu cũ. Cô vẫn hiền dịu mà! Cô tận tâm với học trò lắm, ai cũng khen như vậy. Nhưng cũng không ai chối cãi rằng cô đánh học trò đau ghê lắm, đau thấu… trời xanh lận. Mỵ mới đổi trường, nên không được chứng kiến những lần trước. Nhưng sáng hôm qua, cô cho Quốc Hùng năm thước kẻ vào tay. Nó đau điếng, không khóc mà chỉ… ứa nước mắt, rồi về chỗ ngồi, xuýt xoa mãi như ăn phải ớt. Mỵ thì tái xanh mặt mày, còn nhỏ Vũ thì nói nhỏ bên tai Mỵ:
- Đó là nhẹ đấy! Có khi đứa nào phá phách lắm cô còn bắt nằm dài ra cho cô đánh nữa.
Mỵ nhắm mắt. Bây giờ điệu múa đang đến lúc dồn dập, hân hoan. Cả bọn tám đứa răm rắp theo lời cô, bước tới, bước lui. Mỵ tưởng tượng quang cảnh sân khấu tất niên của trường, đèn đuốc chói lọi, màu sắc rực rỡ. Còn khán giả bên dưới thì đông vô kể. Trong đó có ba má Mỵ, có ông Hiệu trưởng, có các thầy cô. Liệu Mỵ có đủ bình tĩnh để múa cho ăn khớp không? Lúc ấy nếu nhỡ có đứa nào quên mất phải làm gì, đứng quê mặt giữa sân khấu, chắc là khôi hài lắm. Đứa đó chắc sẽ được cô thưởng cho… mười cái thước kẻ. Bỗng nhiên Mỵ muốn rút lui khỏi ban vũ này. Mỵ cảm thấy một nỗi lo âu xâm chiếm lòng mình. Mỵ muốn về lớp.
- Các em ngừng lại, nghỉ.
Tám đứa con gái tản ra làm hai nhóm. Cô giáo nói:
- Khá lắm! Chỉ còn vài chỗ lỗi lầm nhỏ. Cô tin tưởng các em sẽ được hạng nhất về vũ. Bây giờ các em về lớp học. Cô sẽ giao cho các trò trai làm cho các em tám cái vòng hoa để múa.
Bọn học trò con gái vừa bàn tán xôn xao vừa trở về lớp học. Tiếng líu lo trong trẻo ấy nhập chung với những âm thanh lao nhao trong lớp thành một đám chợ. Rồi im bặt, khi cô giáo xuất hiện sau cùng ở cửa lớp.
- Im lặng, nghe cô nói đây. Dịp tất niên này, các em gái của lớp mình sẽ múa một bài vũ. Các em ấy sẽ mặc áo đầm trắng và cầm một vòng hoa. Cô muốn có tám em trai nhận về làm tám cái vòng hoa để cho các em gái múa. Tám em trai đó sẽ được thêm điểm hạnh kiểm cuối tháng, miễn là làm cho thật đẹp.
Phiên chợ lại họp. Cả con trai con gái đều xôn xao. Lũ con trai chỉ trỏ nhau, rốt cuộc cũng có sáu đứa nhận lời. Cô chia công việc cho từng đứa:
- Mỗi em mua một khoanh dây kẽm, cuộn tròn lại bằng chu vi một cái nón lá, cột chặt và quấn giấy xung quanh cho bít kín sợi kẽm. Cắt giấy màu xanh làm lá, giấy màu đỏ làm hoa. Lá thì dễ, các em tự kết lấy, còn hoa, em nào không biết làm thì vào lớp cô chỉ cho. À, xem nào… Có sáu trò. Vậy Dũng làm vòng hoa cho Thủy, Sơn làm cho Thu, Toán làm cho Thúy Mai, Anh làm cho Cúc, Đạt làm cho Hương, Lâm làm cho Tuyền. Còn hai trò nữa, ai sẽ làm cho Vũ và Mỵ đây?
Vũ nói:
- Thưa cô, chị em học bên lớp năm, chị ấy biết làm hoa, để em nói chị em làm cho em.
Cô gật đầu:
- Vậy phần Vũ đã xong. Cô cần một em nữa làm vòng hoa cho Mỵ.
Mỵ đưa mắt cầu cứu tụi học trò con gái. Nhưng các bạn đều đã có phận sự của cô giáo giao cho hết rồi. Mỵ là học trò mới, chưa quen ai nhiều, làm sao đây?
Cô gọi một bạn:
- Thế Vân! Em làm được không?
Có một đôi mắt bối rối. Và một đứa con trai đứng lên, nói giọng miễn cưỡng:
- Thưa cô… được ạ.
- Sao em không giơ tay nhận làm giúp?
- Thưa cô… em…
- Thế Vân trốn trách nhiệm nhé! Thôi, còn vòng hoa của Mỵ cô giao Vân làm, nhớ phải xong cho ngày mốt tập lại.
Đứa con trai “dạ” rồi ngồi xuống. Mỵ len lén nhìn qua. Biết Thế Vân là đứa ngồi ngang với mình ở dãy bên kia. Biết Thế Vân là đứa con trai học giỏi nhất lớp. Biết Thế Vân là kẻ thường bày cho bạn bè nhiều trò chơi thú vị. Nay biết thêm Thế Vân là kẻ kiêu hãnh, khinh người…“một cây”. Thế Vân biết làm vòng hoa mà không nhận làm, để Mỵ phải đứng bơ vơ, để cô giáo phải chỉ định rồi mới “ậm ừ”. Ghét quá! Ghét quá! Người đâu mà hách dịch quá! Tự nhiên nước mắt lưng tròng. Mỵ muốn khóc. Mỵ muốn đi về nhà.

2

Mỵ đến lớp trễ. Nhưng cô giáo đi đâu vắng. Mỵ tìm Vũ. Nó cũng đã đi ăn quà với bạn. Mỵ nhìn thấy trên bàn cô giáo mấy cái vòng hoa xơ xác. Mỵ đến gần để xem. Chỉ có bảy cái vòng hoa. Nhưng nào phải là vòng hoa! Có cái là một khoanh dây kẽm trơ vơ. Có cái đã được dán giấy… nhật trình. Có cái được kết lơ thơ vài cái lá. Mỵ nghĩ thầm: Bọn con trai chỉ biết ăn hại, làm vòng hoa thế này ai mà dám cầm để múa. Chỉ có duy nhất một cái vòng hoa xinh xắn, tròn trịa, dán giấy xanh thật chắc chắn xung quanh, kết tám cái lá răng cưa thật đều, xen kẽ với tám cụm hoa màu đỏ thật dễ thương. Ai là tác giả của vòng hoa này? Mỵ đếm kỹ lại. Vẫn chỉ có bảy chiếc vòng hoa. Vậy thì chắc chắn cái vòng hoa xinh xắn này là của chị Vũ làm cho Vũ rồi! Sáu cái kia là do sáu đứa con trai “có thiện chí” làm. Và một cái không có mặt trên bàn cô giáo là của Thế Vân. Nó đã trốn trách nhiệm, không làm cho Mỵ rồi! Mỵ quay mặt đi. Mỵ nghẹn ngào. Biết thế Mỵ đã xin cô cho Mỵ tự làm lấy vòng hoa, khỏi nhờ đến Thế Vân. Thằng nhỏ phách lối, khó thương ấy, sao… Mỵ ghét nó quá!

Bảy cái vòng hoa! Thiếu một vòng hoa của Thế Vân! Thiếu một vòng hoa của Mỵ!!!

Thúy Mai cầm một cây kem đi đến gần Mỵ, nói:
- Cô cho nghỉ giờ Công Dân. Cô đi họp ở văn phòng. Mỵ đi chơi đi!
Mỵ buồn bã:
- Đi đâu?
- Đi ăn quà. Đi đâu cũng được, nhưng cô cấm đến gần mấy lớp khác.
Thúy Mai lại cặp tay đứa bạn chạy đi. Mỵ lững thững bước ra sân. Mỵ cảm thấy lẻ loi, cô độc quá! Tụi bạn vui vẻ ghê, sao chẳng có ai để cho Mỵ chơi? Mỵ muốn về trường cũ. Trường cũ bây giờ chỉ còn là một tòa nhà ủ rũ dưới đám lá âm u. Mỵ muốn tìm vui ở đây. Nhưng Thế Vân, chính Thế Vân đã làm cho Mỵ biết rằng không có ai muốn vui với Mỵ.

Mỵ bỏ xa đám bạn bè đang chơi đùa với nhau ở sân gạch. Nơi hành lang trước các lớp học, Mỵ đứng lại và tìm thấy có một sự yên lặng. Mỵ đứng yên ở đó. Cô giáo cấm không cho đến trong khi các lớp khác đang học. Nhưng Mỵ cũng biết kia là lớp năm, kế đó là lớp luyện thi vào lớp sáu. Mỵ nhìn thấy những mái đầu chăm chỉ, những đôi mắt lo âu. Họ là các anh chị lớn nhất trường đấy. Sắp tết đến nơi rồi mà cô thấy cũng bắt học thật nhiều. Ít thấy họ tập dợt múa hát. Mỵ mỉm cười. Màn vũ của lớp mình có hy vọng chiếm hạng nhất.

3

A! Cái bóng của ai như là Thế Vân. Từ bên hông lớp năm, Thế Vân rón rén bước chân đi ra, tiến về phía Mỵ. Mỵ lùi lại. Thế Vân chắc không thấy Mỵ. Nó chạy biến ra sân. Mỵ nhìn theo, ngơ ngác. Sao cô đã cấm, mà Thế Vân dám chạy qua lớp người ta? Để làm gì? Thế Vân nghịch ngợm có tiếng đấy! Chắc sắp có chuyện gì xảy ra chăng?
Mỵ quay lại, nhìn theo cái bóng Thế Vân biến mất trong bọn con trai đang chuyền banh ở đàng xa. Và ở đó, có hai cái nơ đỏ hí hửng của Vũ đang chạy lại. Vũ cười khi vừa thấy Mỵ:
- A! Mỵ! Lại nói cho nghe cái này!
- Gì vậy?
Vũ chìa cho Mỵ một cái kẹo, khoe:
- Chị của Vũ làm cho Vũ một cái vòng hoa đẹp lắm!
- Biết rồi!
- Ai nói cho Mỵ biết?
Mỵ buồn bã:
- Biết chứ! Chị của Vũ khéo tay có tiếng.
Chợt… “Đùng ! Đùng! Đùng!”. Ba tiếng nổ làm Mỵ và Vũ hét lên. Cả trường xôn xao như chợ vỡ. Tiếng nổ phát ra từ phía lớp năm. Vũ run run nói:
- Tiếng pháo! Đứa nào đốt pháo!...
Cô giáo xuất hiện trên sân, nói lớn:
- Các em về lớp hết.
Lũ trẻ líu ríu nối đuôi nhau về lớp, im thin thít. Cô bước lên bục, nghiêm sắc mặt:
- Các em ngồi yên đó, cô ra coi tại sao lại có tiếng pháo.
Nhưng một cái bóng con gái xuất hiện trước cửa lớp khiến cô ngạc nhiên. Cô hỏi:
- Em nào đó?
- Thưa cô, em là Chi, học ở lớp năm ạ.
- Có chuyện gì vậy?
Đứa con gái e dè bước vào, vừa đi lại bàn cô giáo, vừa nói run run:
- Thưa cô, em muốn thưa cô là… có trò bên này lén qua lớp em đốt pháo rồi bỏ chạy.
- Ai vậy?
- Thưa cô, trò Thế Vân.
Cô giáo sửng sốt:
- Thế Vân?... Có lý nào!
- Thưa cô, chính mắt em thấy trò ấy lui cui cột cái gì đo đỏ ở kẹt cửa rồi chạy ra xa đốt cái ngòi. Rồi trò chạy. Kế đó là ba tiếng nổ.
Thế Vân đứng lên, cãi:
- Đâu có! Thưa cô, em không hề đi ngang qua lớp năm bao giờ.
- Thưa cô, chính trò Thế Vân này cũng hay qua lớp em bắn bì… Mà trò ấy bắn vào tụi em… đau lắm ạ!
Cô giáo nhăn mặt:
- Thế Vân nhiều tội thế? Thế Vân dám phá phách cả với các anh chị lớp năm à?
Thế Vân đáp:
- Chị ấy nói dối đó cô! Em không hề phá lớp năm.
- Thưa cô em thấy rõ ràng…
- Để cô suy nghĩ coi… một mình em nói làm sao cô tin được? Nếu chính Thế Vân đã đốt pháo, thì cô sẽ trừng phạt nó để làm gương. Nhưng ngoài em này ra, ai đã thấy Thế Vân đến trước cửa lớp năm?
Đôi mắt cô giáo nhìn khắp lớp học, bén như dao. Mỵ cúi xuống tránh tia mắt đó. Không khí rờn rợn chờ đợi một câu trả lời.
Bỗng cô giáo quát lớn:
- Ai? Ai đã thấy???
Đồng lúc đó, cô lại gõ mạnh cây thước kẻ lên bàn. “Rầm!”. Cả lớp giật bắn mình. Mỵ hoảng hồn thốt lên:
- Dạ em!...
Lưỡi Mỵ quíu lại. Nhưng cô đã nghe mất rồi! Trời Phật ơi! Mỵ biết phải làm sao?
Cô giáo ra lệnh:
- Mỵ đứng dậy!
Mỵ làm theo, sợ sệt nhìn cô. Cô hỏi:
- Em thấy Thế Vân làm gì?
- Thưa cô, em chỉ thấy Thế Vân chạy từ bên hông lớp năm ra sân.
- Vậy là đúng rồi! Thế Vân có chối cãi nữa không?
Thế Vân cúi đầu. Nhưng Mỵ thấy có cả một ánh mắt trách hờn nhìn qua. Cô cho đứa học trò lớp năm đi về. Vài tiếng xôn xao nhỏ phải im khi cô bắt đầu từ trên bục bước xuống. Cô gọi Thế Vân:
- Thế Vân! Lại đây.
Mỵ ngơ ngác nhìn cô, nhìn Thế Vân. Những gương mặt học trò như cứng ngắc, chờ đợi. Mỵ cắn chặt môi. Cô giáo nói lạnh lùng:
- Thế Vân! Xòe tay ra!
Thế Vân còn đứng im không nhúc nhích. Mỵ chợt thấy mình là một kẻ tàn nhẫn, dù là một kẻ tàn nhẫn vô tình vì sợ sệt. Nhưng có phải đó là do sự việc Thế Vân không làm cho Mỵ một chiếc vòng hoa? Thế Vân ơi! Mỵ không ghét Thế Vân một tí ti nào. Mỵ mến Thế Vân lắm. Vì Thế Vân học giỏi, vì Thế Vân thường bày trò chơi cho các bạn, vì Thế Vân hay mở cái hộp vuông màu đỏ cho cả lớp nghe có tiếng nhạc thánh thót, thánh thót. Mà Mỵ thì cũng ham học, cũng ham trò chơi, và cũng ham nghe nhạc nữa. Nhưng sao Thế Vân lại nghịch? Nhưng sao Thế Vân lại khinh khi Mỵ để chẳng làm cho Mỵ một cái vòng hoa, dù chỉ là một khoanh kẽm?

Cô nói với cả lớp:
- Cô muốn lần này là lần chót các em thấy cô trừng phạt Thế Vân. Cô không muốn một em nào trong lớp của cô có những hành động đáng ghét như vậy. Thế Vân! Chừa nhé!
“Vút! Vút!”. Mỵ nhắm mắt lại. Mỵ đâu muốn có cảnh này. Nhưng không nghe Thế Vân khóc. Mỵ nghe hai tai mình ù đi. Đến tiếng “vút” thứ ba, Mỵ bật khóc:
- Cô ơi! Em lạy cô! Cô đừng đánh Thế Vân nữa cô ơi!!!
Rồi Mỵ nức nở như người phạm tội. Cô buông cây thước kẻ, nhìn Mỵ ngạc nhiên. Ý chừng cô chưa hề gặp một đứa học trò dễ xúc động như thế này. Nhưng tiếng khóc đã làm cô dịu lại. Cô hiểu. Và khe khẽ, cô bảo Thế Vân:
- Thế Vân, về chỗ ngồi đi!
Mỵ vẫn nức nở. Thế Vân ngồi ngang với hàng ghế của Mỵ. Mỵ muốn trốn một tia mắt trách móc. Sao có tia mắt ấy?...
Cô tới bên bàn, nơi có bảy chiếc vòng hoa. Cô hỏi:
- Em nào đã làm cái vòng hoa lười biếng này? Toán hở? Còn cái vành nón lá xác xơ này là của ai? Sơn hở? Chao ơi! Học trò của cô lười ơi là lười, nhờ một chút không xong.
Vũ bỗng đứng dậy:
- Thưa cô , cô cho phép em chạy qua lớp của chị em để lấy cái vòng hoa chị em đang làm lở dở cho em.
Mỵ ngước mặt lên ngạc nhiên, ngạc nhiên đến quên cả khóc.

Và Vũ trở lại, xách theo một chiếc vòng hoa. Nhưng cái vòng hoa này không đẹp bằng cái vòng hoa nằm trên bàn của cô. Cô cầm vòng hoa của Vũ lên, khen:
- Đẹp! Nhưng cái này đẹp hơn. Của ai làm đây?
Cả lớp xuýt xoa khi cô cầm cái vòng hoa có tám cái lá răng cưa và tám cụm hoa màu đỏ tươi giơ lên cao. Cô hỏi nữa:
- Của ai đây?
- Dạ… của em.
Ôi, là Thế Vân! Là Thế Vân sao? Chiếc vòng hoa của Thế Vân! Chiếc vòng hoa cho Mỵ! Hèn gì có tia mắt trách móc. Ở bên này, cô bé lại bật khóc thành tiếng thánh thót, thánh thót như tiếng nhạc trong chiếc hộp vuông. Còn ở bên kia, cậu bé Thế Vân vừa cười sung sướng vừa xoa hai bàn tay rát bỏng.

4

Sau hôm đó, cô giáo của chúng ta không còn đánh học trò nữa.

Buổi tập múa, Mỵ sung sướng cầm chiếc vòng hoa của Thế Vân. Còn trừ Vũ, sáu bạn kia phải cầm vòng hoa bằng dây kẽm xấu xí. Cô phải nhờ chị của Vũ giúp làm lại sáu cái vòng hoa. Còn Mỵ vẫn giữ cái vòng hoa của Thế Vân cho đến hôm trình diễn tất niên. Màn vũ của lớp được chấm hạng nhất. Cả trường khen ngợi. Nhưng Thế Vân có biết nỗi vui mừng của Mỵ là gì không? Là hiểu được rằng Thế Vân đâu có khinh người. Thế Vân tốt bụng lắm, chỉ phải cái bệnh hay nghịch ngợm. Nhưng như thế mới là con trai, Thế Vân nhỉ!

Mỵ lại đổi trường, cuối năm ấy. Cũng như có cái “huông”, suốt bảy năm trung học, Mỵ đổi trường tất cả bảy lần.Vì thế được học nhiều thầy, quen nhiều bạn, cảm nhận đủ điều hay lẽ xấu. Không còn gặp lại Thế Vân một lần nào. Có khi cũng quên mất Thế Vân, quên mất chiếc hộp vuông có tiếng nhạc tính tang, quên trận đòn của Thế Vân, quên chiếc vòng hoa cho Mỵ.

Nhưng sáng nay, nhìn thấy trên chiếc xe GMC đậu lại trước cổng nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, chất đầy những chiếc vòng hoa cườm tím ngắt, chợt liên tưởng đến chiếc vòng hoa ngày thơ dại, Mỵ muốn khóc khi nghĩ đến một khuôn mặt đáng mến mà mình đã không còn gặp lại. Thế Vân bây giờ vui, buồn, sướng, khổ, còn sống, hay đã chết Mỵ đâu có biết. Nhưng điều mà Mỵ muốn nói với Thế Vân là, tình bạn ngày còn nhỏ quý‎ giá vô cùng, ngây thơ vô cùng. Và Thế Vân ơi! Chiếc vòng hoa của Thế Vân là kỷ niệm dễ thương để cho Mỵ suốt đời tưởng nhớ.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh


Bán nguyệt san Tuổi Hoa, số 231, Tết Ất Mão, ngày 15-1-1975 

tuoihoa.hatnang.com

 

 

 

 

 

 

alt

1

Tôi ghét những ông văn sĩ – ít ra cũng là mấy “ông văn sĩ” mà tôi đã đọc bài của họ trong những cuốn báo nhi đồng mượn của bạn tôi. Không phải vì họ nói xạo. Tôi biết rằng muốn viết văn, người ta phải có bịa ít, hay bịa nhiều, mới có chuyện để viết. Tôi ghét họ, chỉ vì tôi không tìm thấy tôi trong văn của họ, thế thôi. Tôi thích đọc nhiều sách, nhiều báo, nhưng chưa bao giờ tôi mến được một “ông văn sĩ” nào. Tôi thấy những nhân vật của họ “đặc biệt” quá, độc đáo quá. Mà tôi thì không như vậy. Tôi không phải là một cô bé nhiều mơ mộng, suốt ngày ngậm bút làm thơ hoặc ước ao có được nhiều bánh lắm quà. Tôi không phải là một đứa học trò quá ngoan ngoãn, lễ độ và giúp đỡ mọi người luôn luôn. Tôi cũng không phải là một nhân vật nghèo rớt mồng tơi, áo quần lem luốc và chịu cực khổ như trâu. Chỉ vì vậy, chỉ vì tôi không có gì đặc biệt, nên tôi không tìm thấy tôi trong văn của người ta, và như thế… tôi không thích mấy người viết văn.

Tôi cũng ghét những ông nhạc sĩ, nhất là những ông viết nhạc cho tuổi thơ. Cũng chỉ vì tôi không mộng mơ, không chải chuốt như mấy cô bé trong bài hát. Tôi cũng có tóc dài xõa ngang vai, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ đó là một dòng suối, vì suốt ngày tôi phải kẹp gọn sau gáy để làm việc với má tôi trong bếp, chỉ trừ lúc đi học tôi mới tự do mở kẹp ra. Nhưng ở lớp học của tôi, chỉ có một cái quạt trần mà suốt năm lại ù lì không chịu quay, nên hầu như tôi luôn luôn kẹp tóc lên như lúc ở nhà cho đỡ nóng. Tôi cũng có chiếc áo dài trắng nhưng tôi không ví đó là cánh bướm, mà tôi tưởng như đó là những tờ giấy bạc do ba tôi kiếm được chắp lại cho tôi mặc. Và tôi cũng có một chiếc xe đạp, nhưng không ước ao đạp đi rong chơi những chiều gió mát, mà tôi chỉ mong cho nó đừng hư, đừng gãy, để ba má tôi khỏi phải tốn tiền sửa, và… nó đừng mất để tôi không phải khóc bù lu bù loa như cái Thùy dạo nào.

Tôi không thích làm dáng như lũ bạn của tôi. Tôi chỉ gọn gàng, sạch sẽ và tươm tất. Tôi cũng không có thì giờ để mơ mộng vẩn vơ. Nhất là từ khi ba tôi thay đổi chỗ làm, tôi lại thấy mơ mộng là một cái “tội”. Ba tôi mất chỗ làm, không phải vì bị sa thải, mà vì sở của ba tôi đóng cửa. “Sở”, chính là một trường học. Trường học không muốn dạy học nữa thì trường học đóng cửa. Đương nhiên ba tôi – người thư ký‎ của trường - mất chỗ làm. Một sự thay đổi không chọn lựa và không mong muốn bao giờ cũng làm cho con người ta lùi chứ không tiến. Ba tôi nghỉ ở nhà chừng nửa tháng thì được người quen giới thiệu đến một trường học khác. Ba tôi lại làm thư ký, nhưng thư ký “quèn”, không bằng một phần mười của việc làm cũ. Dĩ nhiên, số lương của ba tôi kém đi rất nhiều.‎‎

Tôi thương ba tôi lắm. Thương ba tôi, tôi không ôm lấy ba tôi mà kêu “Ba ơi! Con thương ba!” như mấy đứa con gái đóng kịch “tâm lý xã hội”. Tôi chỉ lén nhìn ba tôi mỗi khi ông ngồi trầm ngâm trước điếu thuốc. Và thương ba tôi, tôi nhủ lòng không bao giờ mơ mộng viễn vông – đó là một cái “tội”, đối với tôi. Con nhỏ Thùy mà nghe vậy, chắc nó sẽ phản đối liền. Sự mơ ước, nếu có, chính là mơ ước ba tôi có một chỗ làm xứng đáng hơn, nhiều lương hơn và rảnh thì giờ hơn. Tôi cũng thương má tôi nữa. Má tôi càng ngày càng khắc khổ vì xoay vần với trăm nỗi lo âu. Má tôi già trước tuổi vì chưa có một khoảng thời gian nào sung sướng. Còn tôi chưa được bao nhiêu tuổi mà đã cảm thấy rằng tôi lớn. Có lẽ tại vì tôi là chị cả. Dưới tôi có năm đứa em. Tôi chưa làm được gì cho tụi nó. Tôi cũng chưa dạy dỗ được gì cho tụi nó. Tôi chỉ mới học đến lớp chín. Trong đám bạn bè của tôi, nhiều đứa còn nhí nhảnh vòi vĩnh cha mẹ, nhiều đứa vừa đi học vừa bán buôn giúp đỡ gia đình, còn lại đa số vẫn là những đứa như tôi. Tôi bỗng thù ghét cái sự bình thường đến độ tầm thường này. Xung quanh tôi, cảnh sống tiếp diễn như một guồng máy. Ba tôi, má tôi và tôi là những cái máy. Cái máy chạy mãi mà không mệt mỏi – hay không cảm thấy mệt mỏi. Cái máy sẽ mòn lụn dần và rồi sẽ dừng lại. Tôi thương ba tôi, tôi thương má tôi quá!

Tôi đã nhập đề khá dài rồi chăng? Tôi biết vậy, nhưng không đừng được. Giống như một người khi nhận được một bức thư, đoán rằng trong ấy sẽ có những điều vui vẻ, họ sẽ làm một công việc nào đó, hay chạy đi đâu một lát, để tăng sự náo nức của họ khi mở thư ra. Giống như một đứa bé trước khi ăn một món ngon, vẫn còn thích hát vài ba câu líu lo để sự hồi hộp được thúc đẩy thêm. Tôi muốn nói là có một cái máy dừng lại, để nhả ra một ít sản phẩm. Chính hôm nay ba tôi chen vào giữa sinh hoạt lạnh lùng đều đặn kia một sự mới lạ. Ba tôi đem về một gói lớn và dẹp. Má tôi đoán là một cây vải. Nhưng rồi má tôi lại bác bỏ ý kiến đó ngay, vì chẳng bao giờ người ta mua một cây vải cho cả nhà may. Các em tôi đòi mở ra xem liền. Tôi không cho, nhất định đoán cho ra. Nhiều giải đáp quá làm gương mặt ba tôi xìu dần. Ba tôi hết cười như lúc mới về. Ba tôi chậm rãi nói:
- Đoán sai hết rồi! Chưa đến tết, mà đứa đoán vải, đứa đoán pháo. Dẹp lép như thế này mà đoán không ra à? Để ba mở cho xem.
Rồi ba tôi thong thả mở gói giấy. Mấy chị em tôi kêu lên thất vọng:


- Trời! Tấm lịch!
Má tôi cười, và bỏ đi xuống bếp. Lũ em tôi tranh nhau sờ lên tấm lịch. Tôi cũng thấy tấm lịch đẹp thật, nhưng tôi không ham. Sự trang hoàng đối với nhà tôi không cần thiết, vì chị em tôi thích có áo tết hơn là đọc số trên tấm lịch. Ba tôi treo tấm lịch lên vách. Tôi biết các em tôi cụt hứng vì không có quà tết, nên tôi nói lảng đi:
- Thằng Dung, lấy cây chổi lông gà quét bàn quét tủ đi. Thằng Dự, con Thư và con Ti leo lên đi-văng ngồi cho chị Tố lau nhà. Sửa soạn dọn cơm cho ba ăn đó!
Lũ trẻ nghe lời tôi răm rắp. Tôi nghe má tôi cằn nhằn dưới bếp:
- Mua gì cho con không mua, đi mua tấm lịch. Thiệt chán!
Ba tôi lặng thinh, châm thuốc hút và ngồi ngắm tấm lịch.
Chuyện ngày hôm nay chỉ có thế. Vậy mà tôi cũng làm cho chính mình hồi hộp, náo nức. Những cái máy lại tiếp tục chạy trong guồng máy. Sinh hoạt lại tiếp tục trôi qua lạnh lùng, đều đặn. Tôi thương ba tôi, tôi thương má tôi quá!

2

Tôi biết rồi! Tôi biết từ đâu mà có tấm lịch rồi! Không phải ba tôi mua. Tôi thừa biết rằng ba tôi không bao giờ xài tiền vào việc mua lịch trong khi chị em tôi chưa đứa nào có áo tết, giày tết. Sự khám phá của tôi đi kèm với sự chua xót. Giá mà sáng nay cô giáo Việt văn đừng bảo tôi đi mua một tấm lịch để treo trong lớp học thì tôi đâu đã biết sự việc này. Giá tôi đi đến một nhà in khác. Giá tôi bị kẹt xe… Bao nhiêu chữ “giá, nếu” làm tôi ứa nước mắt. Tôi là đứa con gái thiếu can đảm phải không? Tôi sợ thấy sự thật chăng? “Sự thật”, chính là cảnh ba tôi vác trên vai từng bao lịch nặng trĩu, hết bao này đến bao khác để đem từ nhà in ra xe. Thân người ba tôi như bị đè thấp xuống vì sức nặng của bao hàng. Ba tôi ốm hơn xưa rất nhiều – giờ này tôi mới nhận thấy. Ba tôi đã thức bao nhiêu đêm để suy nghĩ về cuộc đời? Ba tôi đã ngưng làm thư ký ‎ở trường học mới từ khi nào? Ở trong nhà in này, ba tôi được gọi là “chức” gì khi mà luôn luôn phải vác hàng trên vai? Tôi mở to mắt đứng sựng trong sân nhà in, nhìn ba tôi như nhìn một kẻ lạ. Tôi chỉ nói được một tiếng:
- Ba!...
Và chờ đợi ba tôi mở lời. Ba tôi hơi chùn chân khi thấy tôi. Và rồi ba tôi hỏi:
- Con đi đâu vậy, Tú?
- Dạ, con đi mua lịch cho lớp…
- Vào mua đi! Rồi về lớp học ngay nghen!
- Dạ…
Tôi làm như một cái máy. Khi tôi bước xuống bậc thềm để ra về, tôi gặp lại ba tôi. Ba tôi kêu:
- Tú! Ba dặn nè…
- Dạ???
- Đừng nói cho má biết ba làm ở đây nghen!
Đôi mắt ba tôi trở nên tha thiết và hơi long lanh. Giọng ba nhỏ lại:
- Tối nay ba sẽ nói chuyện với con. Bây giờ về đi!
Tôi không có can đảm đứng nhìn ba tôi lâu hơn nữa. Tôi dắt xe đi. Và khi biết mình đã ra khỏi nhà in một đỗi xa, tôi mới đứng dừng lại trước một hàng rào dâm bụt, và tôi khóc ngon lành.

**

Không biết là bao lâu, từ lúc tôi khóc cho đến khi tôi nghe tiếng nói của một ai cất lên bên cạnh. Tôi cảm thấy như có người nhìn mình và muốn hỏi han mình. Tôi cũng nhận ra rằng khóc ngoài đường là kỳ khôi lắm. Nên tôi cắn môi nín khóc. Có một đôi mắt đang nhìn tôi. Đôi mắt không xa lạ nhưng ngây dại lơ láo – đôi mắt của thằng nhỏ bán cà rem trên con đường đi học của tôi. Nó nói gì với tôi những lời không rõ. Đúng ra là nó đang ú ớ như một người câm. Tôi trố mắt nhìn nó. Trong câu nói lạ lùng của nó, tôi nghe được những chữ mơ hồ:
- Sao… khóc… vậy?
Nếu một người khác hỏi tôi như thế chắc tôi sẽ ngượng ngùng lắm. Nhưng trước mặt tôi là thằng nhỏ này, tôi lại không cảm thấy chút nào e ngại, dù nó trông trạc bằng tuổi tôi và nó lại là con trai nữa… Tôi chùi nước mắt. Bỗng nhiên tôi cười với nó một nụ thật gượng nhưng cũng thật chân thành. Nó chưa nghe tôi trả lời, và nó hỏi tiếp:
- Ai… bắt nạt… hả?
Tôi lắc đầu và nghe cổ họng nghẹn thắt. Giá tôi bị một kẻ xa lạ bắt nạt chắc tôi chưa khổ sở bằng như thế này. Tôi phải trông thấy ba tôi oằn lưng vác lịch, và tôi phải giấu giếm những gì tôi đã thấy. Nếu có ai an ủi tôi bằng câu “nghề nào cũng là nghề đẹp cả, chỉ có người xấu thôi”, chắc tôi sẽ tức tối lắm. Có ai đã cảm nhận được sự xót xa của một đứa con gái khi nhìn thấy cha nó lam lũ khổ cực chưa nhỉ? Nghề lao động không xấu nhưng ba tôi không có đủ sức khỏe để làm như thế. Tôi muốn quên mất cái nhà in kia, quên luôn cảnh ba tôi vác lịch trên vai, mà tưởng tượng giờ này ba tôi đang ngồi làm việc trong văn phòng của trường học cũ.

Tôi nhìn thằng nhỏ. Nó vẫn đứng trong cái thế của một người mất thăng bằng. Tôi hồ như đã quen với cái hình vóc đáng thương của nó, khi tôi ngày ngày đạp xe đi học thấy nó bán cà rem bên đường. Nhưng bây giờ tôi lại cảm thấy tội nghiệp nó hơn. Tôi thấy nó cùng lúc với sự khổ ải của cuộc đời. Tại sao nó vẫn sống được với tấm hình hài tàn tạ này? Tại sao nó vẫn làm việc được bằng một tay độc nhất? Nó có buồn không, khi mỗi phút mỗi giây nó đều nhìn thấy sự khiếm khuyết trên thân thể nó? Nó có cảm thấy tủi thân khi biết rằng nhiều đứa bé – đôi khi cả người lớn – đã sợ hãi nó, khi nó lắc lư khúc tay không quá một tấc của nó để mời mua cà rem? Tôi còn nhỏ tuổi quá, chưa thấy được nhiều cảnh khổ của cuộc đời, nên tôi thấy thằng nhỏ này đã là thảm thê quá đỗi. Bỗng nhiên, trong một thoáng, tôi có ý nghĩ rằng mình hèn nhát. Tôi chưa bằng một góc của thằng nhỏ này. Tôi chưa làm được việc gì để giúp ba má tôi, và tôi đã khóc khi chạm phải một thực tế không như ý.

Thằng nhỏ bây giờ mở nắp thùng kem, chỉ vào đó, nói:
- Gần hết rồi. Mua hông?
Tôi su‎ýt bật cười. Nó muốn dụ tôi ăn cà rem sau khi tôi khóc. Nhưng tôi lại gật đầu. Tôi có ý nghĩ giúp nó bằng mấy chục đồng có trong túi tôi. Ít ra nó cũng đã là bạn của tôi tự nãy giờ. Tôi rút tiền ra, bỏ vào túi áo nó, như mọi người thường làm vì nó chỉ còn có một tay để ôm giữ thùng kem đeo nặng nề trước bụng. Nó nhe răng cười. Tôi bảo:
- Không ăn cà rem đâu! Cất tiền đó đem về cho…
Tôi ngập ngừng… Thằng nhỏ cười sung sướng:
- Cho em, hả?
Tôi nhíu mày, hỏi:
- Có ba má không?
- Ba má… chết… hết ráo rồi, biết hông?
Tôi trả lời theo kiểu ngây ngô như nó:
- Biết… chứ! Rồi… ở đâu?
Thằng nhỏ chỉ tay về phía trước:
- Ở đường Trương Minh Giảng, biết hông? Xa lắm à nha! Đi về nhà… eo ơi sợ lắm!...
Tôi ngạc nhiên:
- Sợ cái gì?
Nó lắc đầu:
- Đừng có hỏi, không nói đâu! Nói… rủi đứa nào nghe được thì… mất hết tiền.
Thằng nhỏ dòm trước dòm sau với điệu bộ sợ sệt. Tôi băn khoăn vô cùng. Nó sợ một đám du đãng ở xóm nó? Hay nó sợ một tên trộm thường xuyên rình rập nó? Tôi không thể đoán được ý nghĩ của nó, vì gương mặt nó – gương mặt của một đứa con trai bằng tuổi tôi kia – khờ khạo, ngu ngơ lắm. Có lẽ lúc buồn hay lúc vui, khi thảnh thơi cũng như khi lo âu, nét mặt nó cũng chỉ là một. Ở sau ánh mắt kia, tôi còn thấy như có ẩn dấu một nỗi kinh hoàng.

Nhận xét về nó làm tôi quên mất nỗi buồn của tôi. Tôi không nhớ rằng trước đó vài phút tôi đã khóc thật ngon lành bên hàng rào dâm bụt. Tôi bỗng thấy mình thật ngộ nghĩnh khi đứng nói chuyện với thằng nhỏ này. Có vài tiếng xôn xao bên tai tôi. Cả tôi và thằng nhỏ đều chú ý đến đám học sinh đầu tiên xuất hiện trên đường vắng. A, đã đến giờ tan học. Tôi giật mình. Tôi phải trở về lớp để gặp cô giáo Việt văn.
- Về nghen!
Tôi nói với thằng nhỏ như vậy. Nó nhướng đôi mắt ngây ngô nhìn tôi, và chỉ vào thùng kem, nói:
- Ăn… cà rem không?
Tôi lắc đầu. Nó lắc lư khúc tay cụt, nhe răng cười:
- Mai gặp lại, hả?
- “Ấy” nói gì?
- Mai… gặp lại… ở đây… ăn… cà… rem.
Thằng nhỏ nhấn mạnh từng chữ làm tôi buồn cười. Tôi quay lưng đi, và cười một mình. Nếu tôi mà kể cho Thùy nghe cuộc đối thoại kỳ khôi này chắc nó sẽ lăn ra cười. Tôi cắm đầu bước nhanh. Nhiều hình ảnh hiện ra, hỗn độn trong trí tôi. Tôi thấy ba tôi ôm đống lịch cứng ngắc nặng trĩu, thằng nhỏ bán kem đeo chiếc thùng kệch cỡm trước bụng. Những cảnh đó có đáng làm cho tôi buồn không? Tôi có làm gì được để thay đổi thân phận của ba tôi, của thằng nhỏ không?
Thằng nhỏ!… tôi vẫn chưa biết tên của nó là gì.

3

Tôi biết đã gần đến tết. Nói một cách văn chương, là trời đang sửa soạn vào xuân. Ở thị thành, không có dấu hiệu nào của thiên nhiên để báo trước cả. Tôi không thấy một vườn mai nở vàng rực hay chim én bay về rợp trời xanh. Nhưng tôi không ao ước thấy những cảnh ấy. Tôi cũng không phải văn sĩ để phải viết văn ca ngợi mùa xuân. Sự mơ mộng, ở tôi, đã nói là một xa xí phẩm. Tôi không muốn làm nhà văn. Nếu phải chọn giữa hai danh hiệu “văn sĩ” và “thợ may”, chắc tôi chọn cái thứ nhì. Tôi ao ước được may cho các em tôi mỗi đứa một bộ quần áo. Tôi cũng thích làm chủ hàng giày dép để phát cho mỗi đứa một đôi. Tôi còn thích làm chủ sạp bánh mứt để chúng tôi nếm ngọt cho bằng thích. Tôi quá tầm thường đi chăng? Thế mà những ước mơ tầm thường của tôi lại không thành. Tôi biết trước rằng tết này chị em tôi sẽ phải mặc quần áo cũ, mang giày dép cũ và chắc cũng không có bánh mứt mà ăn. Tôi biết trong lòng mỗi đứa em tôi - và trong cả tôi – đều có một sự nôn nao, một nỗi ấm ức. Tôi biết má tôi sốt ruột. Tôi biết ba tôi cũng sốt ruột. Nhưng có một mối thương yêu thiêng liêng nào giữa chúng tôi chăng? Chúng tôi không bày tỏ sự bất an trong lòng mỗi người. Chúng tôi không dằn vặt nhau. Tôi biết ngàn đời chúng tôi sẽ chẳng bao giờ dằn vặt nhau. Vì lẽ đó, tôi thấy thương mái nhà của tôi vô hạn.

Một buổi tối, ba tôi gọi tôi đến gần. Xung quanh không còn ai thức. Ba tôi dúi vào tay tôi vài tờ giấy. Ba tôi nói nhỏ nhưng nghe vui lắm:
- Tú cất một ít tiền để sắm áo cho em. Ba muốn năm nay chính tay con mua đồ. Má con đã có chuyện khác để lo nhiều hơn.
Tôi nắm chặt mấy tờ giấy trong tay. Tôi muốn nói với ba tôi một điều gì nhưng cơ hồ không mở lời được. Ba tôi mỉm cười:
- Tú vẫn còn nhỏ quá, nhưng con là chị cả. Ba muốn con chia xẻ với ba một chút sung sướng khi sắm sửa cho các em. Lớn lên một chút nữa, con sẽ thấu hiểu giá trị của sự cần lao và nỗi buồn vui ngọt đắng ở đời. Bây giờ thì con hẵng cứ rán học, rán kiên nhẫn. Quên chuyện hôm nọ ở trong hãng lịch đi nhé Tú! Ba không muốn con bận lòng.
- Thưa ba…
Ba tôi cười nhẹ:
- Ba có là người thư ký‎ hay là người lao công thì cũng vậy thôi. Làm việc bằng trí óc hay làm việc bằng chân tay cũng đều là lao động. Con đừng ngỡ ngàng. Ba muốn con hiểu ba hơn cả má con hiểu ba. Nghen Tú!
Tôi không nói gì được. Ba tôi nói êm đềm quá, ấm áp quá! Mà tôi thì nghe xáo trộn cả tâm hồn. Tôi cúi đầu, bỗng nhiên nước mắt trào ra.

Đêm đó tôi không tài nào ngủ được. Tôi vừa nghĩ thương ba tôi, má tôi, vừa băn khoăn không biết phải sắm gì cho các em. Mỗi đứa một bộ quần áo, chắc cũng vừa hết tiền. Chắc chúng phải mang lại giày dép cũ. Tôi còn phải mua hộp mứt chứ! Trong nhà tôi ai cũng thích ăn ngọt. Không thể thiếu mứt trong nhà khi tết đến. Tôi sẽ mua mứt, và sẽ để dành một gói nhỏ cho đứa bạn của tôi, đứa bạn kỳ cục bán cà rem bên đường. Nó tên là thằng Ngọt, tôi biết được tên của nó nhờ mấy bà bán hàng rong. Không hiểu sao mọi người trên đường ấy đều biết nó. Chắc nó phải có gì đặc biệt lắm. Riêng tôi, tôi tin rằng không phải vì cái tay của nó. Mà có lẽ ở thằng Ngọt còn có sự gì khác lạ nữa. Chưa bao giờ nó nói cho tôi nghe, vì tôi chỉ dừng xe lại mỗi buổi đi học về để nói với nó vài câu vẩn vơ. Tôi không hiểu tại sao tôi lại coi Ngọt như một đứa bạn thân, thân hơn cả với cái Thùy. Có phải bởi vì thằng Ngọt là hình ảnh đau khổ đầu tiên đập vào mắt tôi? Hay vì thằng Ngọt đã tình cờ hỏi han tôi khi tôi khi tôi đứng khóc? Tôi không giải thích được. Nhưng có một điều rõ ràng là tôi muốn chia xẻ với Ngọt những gì nó có. Nếu tôi là văn sĩ, tôi sẽ viết một truyện ngắn về nó, về một đứa bạn kỳ khôi tật nguyền. Tôi thương nó, và tôi thương luôn những người thiếu chân tay trên thế gian. Truyện của tôi sẽ lẩm cẩm lắm. Nhưng tôi sẽ trở thành “văn sĩ của những người tật nguyền”, danh từ nghe cũng là lạ. Lần đầu tiên, tôi có ý nghĩ muốn trở thành nhà văn.

4

Tôi mua một hộp mứt để dành cho mấy ngày tết. Tôi trút vài miếng ra một mảnh giấy và gói lại cho thằng Ngọt. Tôi nghe vui hơn bao giờ. Và không hiểu sao, cái ngày mà tôi đem gói mứt đi cho thằng Ngọt, tôi lại quẹo vào con đường có nhà in mà ba tôi làm trong đó. Tôi muốn nhìn thấy ba tôi dù biết rằng công việc của ba tôi vẫn không thay đổi. Quả thật ba tôi cũng đang vác những bao lịch nặng trĩu từ trong nhà in ra sân. Nhưng đúng lúc tôi ló mặt vào, là lúc ba tôi té quỵ trên nền gạch. Tôi đã biết là ba tôi không có đủ sức khỏe để làm công việc này mà!!! Bao nhiêu năm sống với nghề trí óc, ba tôi đâu có bắp thịt rắn chắc và gân cốt dẻo dai để mà khiêng vác. Tôi bỏ ngã xe đạp chạy vào sân đỡ ba tôi dậy. Ba tôi mệt mỏi thấy rõ, nhưng vẫn cố nói với tôi:
- Đến đây làm chi vậy Tú? Về đi.
Tôi bật khóc. Có nhiều ánh mắt nhìn tôi lạ lùng. Tôi chỉ biết khóc và nâng ba tôi dậy. Tôi lẻ loi giữa sân nhà in cũng như ba tôi lẻ loi giữa cảnh sống thiếu thăng bằng này vậy thôi.

…Đến một lúc tôi phải đi về.Và ba tôi vẫn tiếp tục làm công việc của mình. Cái máy, dù chậm chạp, cũng phải chuyển vận. Đời người, dù lặng lẽ, cũng phải sống. Tôi không bỏ ý định đi tìm Ngọt. Nó cũng như bao ngày ôm thùng cà rem đi rong trên đường. Tôi tìm thấy nó dễ dàng. Chắc nó thấy mắt tôi đỏ hoe nên hỏi ngay:
- Khóc… nữa?
Tôi không đáp, đưa gói giấy cho nó. Nó ngơ ngác:
- Cái… gì vậy?
- Mứt.
Đôi mắt ngây dại kia thoáng một chút vui vẻ. Ngọt nói:
- Mứt… có cay hông?
- Không. Mứt bí, mứt khoai, ngọt lắm. Ăn đi!
Tôi vỗ về Ngọt như nói với một đứa con nít. Tôi mở gói giấy ra. Đôi mắt Ngọt sáng lên. Nó cúi xuống đặt thùng kem bên cạnh, rồi bốc lấy một miếng mứt, cho vào miệng.
Khi Ngọt sắp sửa ăn miếng thứ hai, tôi bỗng thấy mặt nó biến sắc. Nó nói vội vàng:
- Giữ… giữ… giùm tiền cho Ngọt…
Không kịp cho tôi phản ứng gì cả, Ngọt té lăn ra đất, giãy giụa. Tay chân nó co giật lia lịa và hai mắt nó trợn trắng. Những người qua đường dừng lại và bu quanh cảnh tượng đó. Từ trong túi áo của Ngọt, những đồng tiền rơi ra, lăn lông lốc. Lũ trẻ nhỏ và bọn con trai lớn chỉ đợi có thế, đổ xô đến lượm tiền. Tôi hoảng sợ lượm cất lại cho Ngọt, nhưng không kịp tay với bọn kia. Tôi phẫn nộ hét la như một đứa con trai. Không ai nghe tôi nói. Dường như mấy bà bán hàng rong đã quen với cảnh này – cảnh thằng Ngọt bị giật kinh phong hàng bữa. Tôi biết rồi, mỗi lần như thế là Ngọt bị mất hết tiền. Và trên đường về của Ngọt, không có ai cướp bóc, mà là Ngọt đã vãi tiền ra cho người ta lượm, thế thôi!

Ngọt giãy giụa không biết đến mấy phút, mà tôi nghe lâu như cả ngày. Cánh tay cụt của nó lắc mạnh trong cơn vật vã. Nó lăn lóc dưới đất trông thật thảm hại. Tôi không biết làm gì cho nó. Tiền của Ngọt đã bị lượm hết.

**

Tôi ngồi xuống bên Ngọt. Nó đã qua cơn vật vã. Nó trở lại bình thường như tôi vẫn thấy. Tôi nghe Ngọt kể lể. Giọng nó thất thanh nhưng hay ho và tội nghiệp hơn cả giọng đọc truyện trong máy thâu thanh. Lời nó mộc mạc nhưng cảm động hơn cả câu văn chải chuốt của các “ông văn sĩ”. Chuyện của nó ngắn ngủi mà đúc kết bằng cả những đoạn đời khổ ải kinh hoàng. Ba má Ngọt và một đứa em của nó chết vì bị pháo kích. Ngọt còn một ông nội già nua và một đứa em nữa. Ngọt cũng bị cụt tay trong cơn hãi hùng đó. Sự mất mát về thể xác còn kéo theo sự hư hỏng thần kinh. Ngày nào Ngọt cũng bị giật kinh phong một lần nhưng vẫn ráng đi bán kem để nuôi ông nội và em. Hết rồi! Chuyện của Ngọt chỉ có thế.

Tôi cảm thấy hai mắt tôi ứ đầy lệ. Tôi đã lớn chưa, mà sao đã thấm thía nỗi buồn vui cay đắng ở đời, và ý nghĩa của sự cần lao? Sự cần lao của ba tôi, và của Ngọt, sao mà chua chát quá! Tôi sẽ làm gì để thay đổi được cho ba tôi, cho Ngọt? Khi ba tôi té quỵ trong sân nhà in, khi Ngọt giãy giụa trên đất bẩn, là khi tôi cảm thấy đời sống không phải là một mùa xuân. Tôi thấy Tết đối với tôi là giả tạo, là gượng ép. Nỗi sung sướng của tôi, nếu có, sẽ là một cái tội bên cạnh sự đau khổ này.

Ngọt lượm mấy miếng mứt vung vãi trên đất cho vào miệng. Nó tự nhiên và vô tư quá! Nó đưa cho tôi một miếng mứt bí:
- Ăn đi! Ngọt… lắm!
Tôi nghe lời nó, cắn một miếng mứt. Tôi muốn khóc thật ngon. Và lần thứ hai, tôi có ý nghĩ muốn mình trở thành nhà văn.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Tuổi Hoa số 217&218, Xuân Giáp Dần,  ngày 15-1 và 1-2-1974

tuoihoa.hatnang.com