Những bài mới nhất

alt

1. Mai Anh

Ba gọi em, giục em lên xe về kẻo tối. Ừ, trời sắp tối rồi! Nhưng em không muốn dời chân. Em muốn đứng mãi ở đây để ngắm ngôi nhà mới của em. Ngôi nhà mới rộng quá, đẹp quá, rộng gấp ba ngôi nhà em đang sống và đẹp gấp mười lần những căn nhà tầm thường xung quanh. Ngày mai, ngày mốt em sẽ được tha hồ chạy nhảy đùa chơi trong ngôi nhà này. Em sẽ cất tiếng la “ô…ô…” cho tiếng vang lan đầy khắp nhà. Em sẽ được ba má dành riêng cho một phòng rộng để ngủ và học. Anh Tuấn, chị Ly cũng sẽ được như thế. Và cả nhà em sẽ có phòng khách riêng, phòng ăn mát mẻ, phòng đọc sách, phòng tắm… ôi chao sung sướng quá! Em sẽ sống như một nàng công chúa nhỏ vậy. Ai cũng cưng em hết. Em sẽ cho búp bê của em ngủ chung với em, chơi chung với em, để nó khỏi buồn.

Ba! Cho con đứng lại một chút mà ba! Con thích ngắm ngôi nhà mới của mình thật lâu. Ba bằng lòng. Nhưng ba nhắc em rằng chút nữa ăn cơm xong còn đi sắm Nô-en cả nhà nữa đó. A, em chợt nhớ ra. Em muốn nhảy tưng lên vì vui mừng quá đỗi. Em muốn reo lên- Nô-en đến rồi! Nô-en đến rồi! Năm nào Ông già Nô-en cũng xuống cho em quà trong khi em đang ngủ, sáng ngày dậy thật sớm em sẽ bắt gặp gói quà thật to dưới chân. Năm nay chắc là Ông già Nô-en sẽ cho em nhiều quà hơn. Và, thích thú làm sao, năm nay em sẽ được ăn Nô-en ở nhà mới. Ông già Nô-en hẳn sẽ chóa mắt ngạc nhiên khi leo vào ống khói nhà mới. Ơ! Nhưng nhà mới không có ống khói. Chẳng sao, vì ống khói cổ lỗ quá rồi. Ông già Nô-en chắc sẽ không buồn đâu! Hẳn ông sẽ đi bằng…. bằng cái cửa sổ nhỏ trên lầu, chỗ phòng của em nhỉ!

Em nghe thắt thắt ở bụng. Em bắt đầu đói rồi! Và hình như búp bê của em cũng đói nữa. Trông mặt nó nhăn nhó buồn cười ghê! Có lẽ em nên về với ba thôi. Ngày mai em lại theo ba đến ngắm nhà mới nữa. Ngày mai nhà đã xong xuôi tất cả, ba má sẽ dọn đồ đạc tới, và chuẩn bị đón Giáng sinh luôn. Em chạy như chim xuống những bậc thềm đá hoa. Nhưng em vướng chân, ngã nhào. Em hoảng hồn tưởng mình đã gãy vài cái xương sườn. Nhưng không, em chỉ hơi trầy cùi chõ tay thôi, còn búp bê của em thì… chết rồi! một cánh tay bị lìa ra khỏi thân, văng đến đống gạch. Tại em chống búp bê xuống đất để đỡ cho mình đó! Em thương búp bê quá! Tội nghiệp, nó chẳng rên hay khóc gì cả, mà cứ nhìn em cười hoài. Xin lỗi em nghen, búp bê!

Em đang tiếc ngẩn tiếc ngơ, thì nghe một giọng nói bên tai:
- Cô bé có con búp bê ngộ quá, sao lại gãy tay rồi?
Em quay lại. Người vừa nói là chú Tám thợ hồ mà em mới quen ban nãy. Chú nhìn con búp bê không chớp mắt. Có cái gì trong tia nhìn của chú đây? Thắc mắc như vậy nhưng em không đoán ra được. Chú cười thật hiền:
- Bé gắn tay nó dô đi!
Và chú cúi xuống đống gạch lượm cánh tay gãy đưa cho em. Em hí hoáy nhét đầu xương vào lỗ trống tròn nơi vai búp bê. Nhưng nhét mãi không được, em bực mình ném cánh tay xuống đất. Em nhìn chú Tám, thấy chú chắc lưỡi, bèn nhờ chú gắn vào hộ em. Chú lại cúi xuống nhặt cánh tay lên, loay hoay nhét. Cứng quá, vẫn không vào – búp bê của em đâu có phải bằng ni-lông mà bảo mềm. Cuối cùng chú Tám cũng chịu thua, và trả búp bê lại cho em. Thì… thôi rồi, búp bê của em đã dính lấm lem những xi-măng, những đất đen vào cả quần áo mặt mũi rồi. Em phụng phịu nhìn chú Tám, muốn “bắt đền” chú quá! Nhưng trông nét mặt chú hiền hậu quá đi, em không dám. Chú Tám nói:
- Chết không! Dơ hết búp bê rồi! Chết không! Chết không!....
Chú cứ nói “chết không” luôn miệng làm em buồn cười hết giận. Phen này chắc là về nhà phải bỏ con búp bê thôi, dơ cả rồi làm sao chơi được? Em không thích rửa ráy búp bê, vì tóc búp bê sẽ bị ướt, hư hết. Em chào chú Tám, quay lưng đi. Nhưng hình như tia mắt chú Tám vẫn còn dõi theo em. Em dừng lại. Chú Tám ngập ngừng:
- Con búp bê coi… ngộ quá há cô!
Mắt chú vẫn nhìn búp bê của em không thôi. Em đoán ra một phần rồi. Em hỏi chú đột ngột:
- Chú có con không, chú Tám?
Chú Tám cười:
- Có, có. Tui có đứa con năm tuổi, nó con gái, nó…
- Nó có thích búp bê không, chú Tám?
- Thích, thích lắm cô.
Em đoán hết ý nghĩ của chú Tám rồi. Em cười tủm tỉm:
- Chú có mua búp bê cho nó không?
- Ơ… không có. Nó chơi bán hàng bằng giấy xếp không hà.
Như có một cái gì đẩy cánh tay em, em đặt búp bê của em vào tay chú Tám. Em hồi hộp lạ, miệng em nói nhanh:
- Cháu… tặng con của chú Tám đó, nghen chú!
Rồi em đi nhanh ra cửa, phía ba đang chờ ở xe. Hình như có tiếng chú Tám nói gì đàng sau. Em thấy hân hoan như vừa bắt được một cái gì, mặc dầu vừa rời xa búp bê của em. Búp bê đã gãy tay rồi, em không cần nó nữa nhưng chắc con của chú Tám sẽ thích nhiều. Tối nay về em sẽ viết thư cho Ông già Nô-en để khoe với ông chuyện này. Hẳn ông sẽ khen em vừa làm một việc tốt và... ông sẽ mang đến cho em nhiều quà. Em sung sướng quá! Nhưng… không biết Ông già Nô-en có đến cho quà những đứa trẻ nghèo như con của chú Tám không nhỉ? Sao em chả bao giờ thấy tụi con nhà nghèo sau đêm Giáng sinh đem quà ra khoe với nhau dù là một cây kẹo hay một quyển vở nhỏ? Chẳng lẽ Ông già Nô-en lại không đến nhà chúng hay sao? Má thường kể cho em nghe rằng Ông già Nô-en thương trẻ con lắm, nhất là trẻ nghèo cơ mà! Tối nay, trong thư em sẽ hỏi Ông già Nô-en việc này mới được.

Ba lại gọi em một lần nữa. Em chạy nhanh ra xe. Ba rồ máy chở em về nhà. Qua khung cửa kính, qua màu tím của trời chiều ngoài kia, em thấy chú Tám đứng trên khoảng sân rộng nhìn theo, và đàng sau chú, hơi xa, có vài đứa bé trạc bằng em cũng đứng nhìn theo, dáng trơ vơ.

2. Lành

Em như hồi hộp một lát. Rõ ràng trên tay chú Tám, con búp bê đôi mắt to dịu dàng, mái tóc đen nhánh cột cao mềm mại, tay chân trắng hồng, mặc một chiếc áo đầm kim tuyến xinh quá. Con ông chủ nhà – Mai Anh – vừa mới cho chú Tám con búp bê ấy. Bây giờ chú Tám vẫn còn đang cầm con búp bê, nâng niu như âu yếm con của chú. Con búp bê đã gãy mất một tay, đã dính lem xi-măng, nhưng không kém vẻ đẹp đối với em. Em đã say mê nhìn Mai Anh ôm búp bê trong tay ngay khi nó đến đây xem nhà mới. Em len lén nhìn theo Mai Anh, khi chạy ra sân, khi vào nhà bếp, cả những lúc nó lên lầu, tung tăng trên những bậc thang, rồi khuất sau tường, em cũng nhìn theo ngơ ngẩn. Em nấp sau cây cột khi Mai Anh đến gần. Mai Anh chẳng thấy em đâu, song em thấy Mai Anh, và cả con búp bê xinh đẹp nữa.

Có lúc em thấy búp bê như cười với em, như ngoái đầu lại nhìn em, khi Mai Anh bế vác nó trên vai. Có lúc em tưởng tượng như nghe búp bê nói: “Chạy theo tôi đi, chơi với tôi, Lành!” Búp bê nó có biết suy nghĩ không? Nó có biết giận hờn, vui buồn không? Nếu không, tại sao người ta khéo đúc, khéo nặn nó thành một hình người xinh đẹp và ngây thơ như vậy? Em không hiểu nữa, có điều lúc nào em cũng thấy búp bê như cười với em thôi.

Cái lúc mà Mai Anh bị té, rồi búp bê bị gãy tay, sao em hoảng sợ lạ. Em đứng mãi đàng xa, em muốn la to một cái. Em đau quá! Nhưng sao búp bê chẳng đau, vẫn cười? Em nhớ… xóm em hồi năm đó, trong lửa đạn, nhà em sập, em bị một mảnh ván rơi đè trên tay, không đến nỗi gãy tay nhưng em đau đớn lạ. Em khóc thét to lên, để má, hay ba, đến dỗ dành em như thường ngày em vẫn làm nũng. Nhưng lúc đó chỉ có chị Hiền đến dỗ em thôi. Em thấy chị Hiền khóc, mắt ướt sũng, chị vừa dỗ em vừa khóc tức tưởi: “Nín đi em, nín đi em, không sao đâu!”. Sau đó thì – ôi, em nhớ rõ lắm, rõ lắm – chị Hiền chỉ cho em xem, ở dưới bếp, ba em, má em… hai người nằm dưới đất, yên lặng như chết. Mà đúng, ba má em chết thật rồi!....

Em để trí nhớ đi đâu xa quá nhỉ! Em muốn nghĩ tiếp về con búp bê. Con búp bê! Ngày xưa em cũng có một con búp bê, nhưng nhà em cháy, búp bê em cũng không còn. Từ khi đó, chắc là chẳng bao giờ về sau chị Hiền mua nổi cho em một con búp bê khác. Hai chị em có làm ra tiền đấy, nhưng mà để mua cơm ăn, và thuê chỗ ngủ mà thôi. Chị Hiền có khi nào nghĩ đến việc mua đồ chơi cho em? Chị em cũng còn nhỏ quá – mười ba tuổi thôi, nhưng chị ấy có vẻ người lớn rồi. Chị ít nói cười hơn trước, và chị hay chống tay vào cằm nhìn xa xôi mỗi khi xong việc. Chị cũng có nói năng dỗ dành em, nhưng không bao giờ đả động đến đồ chơi. Em biết chả đời nào chúng em dư tiền để mua một con búp bê xinh đẹp như búp bê của Mai Anh. Nhưng em vẫn thích búp bê như thuở nào. Tại sao búp bê lại không phải là của em? Tại sao Mai Anh không cho em mà lại cho chú Tám? Mai Anh đâu có biết con của chú Tám! Ơ, mà Mai Anh cũng đâu có thấy em. Nếu Mai Anh thấy em, nếu… em ngỏ lời xin, Mai Anh có cho em không nhỉ? Hay Mai Anh thấy em lem luốc, bẩn thỉu, nó sẽ e ngại, biết đâu nó sẽ khinh em. Ồ không thể được, em nghĩ bậy quá rồi! Má em, ba em đâu có dạy em phải ngửa tay xin xỏ ai vật gì!

Chợt em nhớ đến Già Nô-en. A, phải rồi, Già Nô-en vẫn thường hiện đến mỗi năm vào lễ Giáng sinh đấy mà. Già Nô-en ơi, năm rồi Già không đến với con. Sáng thức dậy con chẳng thấy quà của Già đâu cả. Hay Già chê nhà con không còn nữa, Già không thèm ghé lại nhà ghế bố của con? Ồ không lẽ nào! Không lẽ nào Già Nô-en lại cũng tầm thường như thế, không lẽ nào Già chỉ thương trẻ nhà giàu! Em muốn lý‎ do vắng Già Nô-en không phải như thế. Em tin rằng năm nay Già Nô-en sẽ nhớ đến em. Em thiếu thốn và bơ vơ lắm.

Bỗng nhiên em có ý nghĩ là phải chi Già Nô-en cho em một con búp bê, một con búp bê… như của Mai Anh vậy. Búp bê gãy tay cũng được, búp bê lem luốc xi-măng cũng được, miễn sao em có búp bê trong tay. Già Nô-en ơi! Phép của Già có mầu nhiệm không? Già có đôi đũa thần biến hóa mọi vật như bà tiên không? Già có biết những ý nghĩ trong lòng con không? Ôi làm sao Già có thể ban cho con một ân huệ nhỏ bé mà cao xa: con chỉ ao ước được ôm con búp bê trong lòng, con búp bê cụt tay như của chú Tám thôi, chỉ thế mà thôi!...

3. Hiền

Em Lành đã ngủ thật say. Tiếng thở đều đều phát ra. Tôi đoán em tôi đang gặp một giấc mơ hiền. Thương em quá! Tối hôm nay em không buồn ăn cơm. Ngồi ở hàng cơm tấm của bà Sáu, tôi thì ăn vội cho mau, nhưng nó thì cứ cầm đũa mà nhìn xe cộ ngoài đường. Tôi giục, thì nó ừ, rồi mắt vẫn cứ ngó bâng quơ. Lạ quá! Em Lành có việc gì đây? Nó không nói với tôi một lời. Khi tôi nhắc đến tiếng thứ ba, nó buông đũa xuống, bảo không ăn. Và tôi thấy đôi mắt nó long lanh, giọng nói nó nghẹn ngào. Nó kêu no, và hối tôi về sớm.

Về đến nhà – ngôi nhà mà chú Tám và chị em tôi cùng nhiều người thợ nữa vừa xây xong – chúng tôi gặp ngay chú Tám cũng vừa đi ăn về. Chú Tám vẫn hỏi han chúng tôi như thường lệ. Bỗng em Lành ngập ngừng hỏi chú:
- Chú Tám,… con búp bê hồi chiều… đâu chú?
Chú Tám bảo:
- Chú cất trong giỏ, chi vậy?
Em Lành muốn nói gì, nhưng nó nghẹn ngào và quay phắt mặt đi. Tôi rầy nó:
- Con nhỏ này, tối nay mày kỳ quá vậy? Cái mặt cứ bí xị ra hoài.
Em Lành nhìn tôi như muốn bật khóc. Nó lủi thủi đến ngồi trên thềm nhà. Tôi không hiểu, lặng lẽ lấy chổi quét cho sạch khoảng sân – công việc cuối cùng của tôi, vì ngày mai chủ nhà dọn đến. Cả tôi, cả em Lành, và chú Tám cùng những người thợ khác phải đi. Chú Tám về nhà của chú ở Hốc Môn, còn chị em tôi lại thuê ghế bố ngủ hằng đêm. Chừng nào có việc, chú Tám lại đến kêu chúng tôi đi làm. Việc làm của chị em tôi, giản dị lắm, là khiêng gạch, trộn hồ, chuyền nước… cho những người thợ. Mỗi ngày lãnh vài chục bạc, tôi dẫn em đi ăn cơm tấm, còn để dành tiền thuê ghế bố ngủ.

Xong công việc, tôi đến ngồi trên một chiếc ghế đá, ngắm nhìn toàn thể ngôi nhà. Công trình của tôi đó, của em Lành đó, của chú Tám đó! Trong khi chuyền gạch, trong khi xách hồ, tôi tha thiết như mình đang góp bàn tay vào xây dựng ngôi nhà của chính mình. Tôi nghĩ đến hàng ngàn viên gạch nằm san sát bên nhau, sẽ được tô hồ thật thẳng, quét vôi thật đẹp, sẽ là những bức tường rắn chắc che chở cho chúng tôi. Tôi nghĩ đến tấm tôn màu xanh lơ che bên hông nhà, sẽ phủ màu xanh lên người chúng tôi khi chúng tôi chơi “rải gianh” ở đó. Tôi nghĩ đến chiếc cửa sổ nhỏ xinh xinh trên lầu, sẽ là nơi mà Già Nô-en thần thánh bước vào, ban phát quà bánh cho chúng tôi đêm Giáng sinh sắp tới. Ôi tôi nghĩ ngợi nhiều lắm. Nhưng nhà này đâu phải của tôi, của em Lành hay của chú Tám! Chú Tám đã trầm trồ trước màu vôi đẹp, cặm cụi khi chà láng đá mài trên những bậc thang, rồi chú cũng trở về căn nhà của chú ở Hốc Môn. Em Lành và tôi đã nhỏ giọt mồ hôi trên trán, đẫm ướt lưng áo khi khiêng gạch nặng, rồi cũng trở về với dãy ghế bố của mình. Tự nhiên tôi cảm thấy uất ức, như sắp sửa bị ai cướp giật công lao sáng tạo của mình.

Trong hàng ba, em Lành đang giũ chiếc chiếu rách, trải lên nền gạch. Nó nằm xuống, tay gác trên trán. Tôi đến gần em. Nó nhắm mắt lại, nhưng tôi biết nó chưa ngủ. Nét buồn bã còn đậm trên mặt nó. Con nhỏ này hôm nay kỳ quá!

Tôi ngồi xuống chiếu. Em Lành mở mắt nhìn tôi. Như hai vì sao, đôi mắt nó chớp mau, long lanh. Nắng gió đã làm cho da em tôi đen sạm lại, nhưng đôi mắt thì vẫn sáng như lúc nào. Bất chợt tôi nghe thương thương lạ. Tôi cúi xuống, hỏi:
- Lành buồn ngủ chưa?
Lành lắc đầu. Tôi lại nói một câu bâng quơ:
- Ngày mai tụi mình đi khỏi đây… Lành há!
Lành gật đầu. Tôi thở dài, cảm thấy những lời nói của mình lạc lõng vô duyên, chừng như không lọt được vào tai em. Tôi chán nản nằm xuống:
- Thôi, ngủ đi. Mai sáng dậy đi sớm.
Tôi nhắm mắt lại. Chợt em Lành xây qua, đập nhẹ tay tôi:
- Chị Hiền, con búp bê của chú Tám… đẹp ghê há!
- Ừ, rồi sao?
- …
- Nói nữa đi!
- Chị Hiền, năm nay… không biết Ông già Nô-en có đến cho quà mình không hả chị?
- Chẳng biết nữa. Chi vậy?
- Để… em xin ông ấy quà…
- Nói nhảm mãi. Ngủ đi cho rồi.
Tôi không muốn em Lành nhắc tới chuyện quà. Đúng hơn, từ ngày ba má tôi mất, chẳng bao giờ tôi nghĩ đến chuyện mua quà cho em. Huống hồ là chuyện “Ông già Nô-en”, nó đã trở thành một thứ “xa xí phẩm” đối với tôi rồi. Tôi biết, những năm trước, vào dịp Giáng sinh, ba má tôi đã mua quà, gói thật đẹp và đợi chúng tôi đi ngủ, đem để dưới chân mỗi đứa, rồi sáng ra bảo rằng có Ông già Nô-en hiện xuống cho quà trẻ ngoan. Tôi lớn dần, tôi khám phá việc ấy, nhưng em Lành còn khờ dại, nên vẫn luôn tin vào huyền thoại Ông già Nô-en, vẫn còn ao ước và thắc thỏm đợi chờ. Nhưng năm ngoái ông đã phụ lòng nó, ông không đến: chỉ vì ba má tôi không còn!

Em Lành bị tôi gắt, ngưng nói. Nhưng tôi nghe nó ấm ức nho nhỏ trong cổ họng. Tôi nhắm chặt mắt lại, vờ quay lưng ngủ. Một phút sau tôi nghe em tôi khóc nho nhỏ.
… Tôi để yên cho nó khóc. Khóc đã, nó ngủ tự lúc nào. Bấy giờ có lẽ đã gần khuya. Tôi dỗ giấc ngủ mãi không được, ngồi dậy nhìn trời. Bầu trời đen, nhưng sao thì nhiều, đầy đặc. Tự nhiên nỗi nghẹn ngào như dâng lên. Tôi cảm thấy như hình ảnh ba tôi, má tôi hiện ra trên những vì sao đó. Ba má tôi nhìn tôi như an ủi, như van nài. Lạy Trời! Ba ơi! Má ơi! Cảnh khổ làm con chai đá hơn xưa, nhưng con vẫn thương em con ghê lắm!!!

Tôi quay nhìn em Lành. Giấc ngủ đến nặng nề sau cơn khóc. Em có gặp mộng đẹp không? Em có mơ thấy Già Nô-en viết thư, gói quà cho em không? Hay em thấy nhà cháy, người chết, em thấy khói tỏa làm cay mờ cả mắt? Tôi không đoán được. Lúc này, khi ngủ, em vẫn vô tư như trăm lần ngủ khác – như ngày còn ba má, còn một mái nhà, như đêm kinh hoàng dạo nọ, như thuở chen chúc trong cô nhi viện, như đêm trốn đi lạc loài ngoài chợ, như khi nằm trên ghế bố, như khi nằm trước thềm nhà. Ôi em gái đáng thương! Chị biết làm gì cho em?...

Thôi tôi biết rồi! Em tôi mơ một con búp bê. Em tôi thèm thuồng khi thấy Mai Anh cho chú Tám con búp bê đã gãy tay và lấm lem xi-măng. Đôi mắt em tôi không ngừng trên tay chú Tám. Em đã bỏ cơm, em đã nghẹn ngào, và em đã khóc tấm tức. Tôi đứng phắt dậy, ngẫm nghĩ. Ngày mai chú Tám về sớm. Giỏ quần áo của chú, có con búp bê nằm bên dưới. Chú sẽ chẳng hay biết gì, nếu tôi khéo tay.

Tôi nhìn em Lành, rồi nhìn khoảng sân đàng kia. Chú Tám đang ngủ say sưa. Em tôi đang ngủ yên lành. Đêm Giáng sinh, tôi sẽ thế ba má tôi tặng quà Nô-en cho em. Ông già Nô-en vẫn mãi mãi là thần tượng của em Lành.

4. Chú Tám

Tôi thấy nhà tôi đứng trước cửa. Tôi thấy con gái tôi chơi nghịch trên thềm. Nhà tôi cười với tôi. Con tôi đứng dậy, kêu “ba về!”. Tôi dựng xe đạp, bế con gái lên, nựng nịu. Rồi tôi rút con búp bê ra, đặt vào bàn tay nó. Nó phụng phịu: “Búp bê cụt tay, con hổng thèm”. Tôi năn nỉ mãi, nó vẫn không thèm, rồi vất con búp bê xuống. Tôi cúi xuống lượm, đầu tôi va phải cây cột nhà đau điếng…

Tôi giật mình thức dậy. Tôi hoảng hốt khi thấy có một cái bóng nhỏ thó lui cui bên giỏ quần áo của tôi. Tôi nhìn kỹ: con Hiền kia mà! Giận thật! Không ngờ con nhỏ này lại gian xảo như vậy. Chắc là nó lục tiền. Tôi toan vùng dậy tóm cổ nó. Nhưng không, nó rút con búp bê ra, rồi rón rén – nhưng rất vội vàng – chạy về chỗ của nó. Tôi thấy nó ôm con búp bê, rồi đặt xuống gần bên em nó, rồi bất ngờ ôm mặt khóc nức nở… Có một cái gì hơi lạnh xót len vào lòng tôi. Tôi hiểu cả rồi. Hèn gì! Tôi nhớ lại thái độ của con Lành từ hồi chiều. Vậy mà tôi mải nghĩ đến con gái tôi nên không để ý.

Thôi, tôi làm như không hay biết gì cho xong. Nó vẫn yên chí là tôi ngủ say. Sáng mai tôi sẽ đi thật sớm, và nhớ biếu thêm chị em chúng nó ít chục. Con gái tôi sẽ có quà khác. Mà dù không có cũng được, vì nó không thiếu tình thương. Con Lành hẳn sẽ vui sướng với con búp bê cụt tay dễ mến. Con Hiền hẳn sẽ hài lòng vì làm vui được em. Tôi sẽ làm như không hay biết gì cả. Tội nghiệp hai đứa nhỏ mồ côi.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

(Bán nguyệt san Tuổi Hoa, số 120, ra ngày 15-12-1969)

Hình: https://tuoihoandmore.blogspot.com/2013/08/bia-bao-tuoi-hoa.html

 

 

 

 

 

 

 AP Photo/Jacquelyn Martin

AP Photo/Jacquelyn Martin

 

“Nick Simmons biến mất khỏi nhà ngay ngày đầu năm mới, không đem theo ví, cell phone … và mọi thứ. Gia đình cuống cuồng lo âu. Cảnh sát cũng đã điều tra về sự mất tích của Nick nhưng chưa có manh mối.

Bốn ngày sau, một phóng viên nhiếp ảnh của AP, trong khi tìm cảm hứng để chụp ảnh mô tả cái lạnh bất thường của mùa đông năm nay, đã chụp cảnh Nick đang sưởi ấm bên một lò sưởi hơi nước (1), trên một con đường cách Điện Capitol vài “block” phố.

Ông bà Paul và Michelle Simmons trông thấy tấm ảnh trên USA Today vào Chủ nhật và họ không thể hiểu được vì sao cậu con 20 tuổi của họ lại bỏ nhà ra đi và làm cách nào có mặt tại thủ đô.

Bức ảnh – do phóng viên nhiếp ảnh là cô Jacquelyn Martin chụp – cho thấy Nick đang tựa khuôn mặt không cạo râu của mình lên vỉ lưới của lò sưởi hơi nước bên ngoài tòa nhà của Federal Trade Commission. Anh mặc một chiếc áo jacket có mũ trùm đầu; nửa thân dưới đắp một tấm chăn dày.

Hôm đó lẽ ra Jacquelyn Martin có cuộc phỏng vấn với Tổng thống ở Tòa Bạch Ốc, nhưng vì Tổng thống đi nghỉ cuối năm ở Hawaii chưa về, nên cô đi vòng vòng các phố để tìm cảm hứng trong tiết đông. Cô thấy một nhóm những người đàn ông không nhà ngồi tụm vào nhau bên lò hơi, cô đến xưng là phóng viên và xin chụp ảnh họ. Nhưng cô đặc biệt chú ý tới một thanh niên, cô giật mình vì thấy anh còn quá trẻ. Cô bắt tay anh và được anh cho biết tên anh là Nick. Martin chụp bức ảnh, và coi như đã xong một ngày.

Hôm sau, Martin nhận được một tin nhắn của tờ USA Today, cho biết sau khi báo đăng bức hình thì gia đình của Nick xem được, đã nhận ra anh và đang cố gắng tìm gặp anh.
Ngay trưa Chủ nhật cảnh sát đã đưa anh vào bệnh viện. Đêm đó, cha và anh của Nick đến đón anh về.

Đối với nữ phóng viên nhiếp ảnh Martin, đây là một sự việc đáng nhớ cho cô, và cô chia sẻ với các đồng nghiệp của mình rằng: mỗi một người mà họ gặp được đều có một câu chuyện để kể. Hơn thế nữa, cô vui và cảm động vì bức ảnh mà cô chụp đã giúp gia đình Nick được đoàn tụ.” (2)

**

Xem xong bài báo, chị nói:
“Sao không thấy bài báo nói thêm chi tiết về anh Nick này nhỉ!”
Em :
“Không thấy. Chẳng biết anh chàng có đi học không.”
“Hai mươi tuổi ít nhất cũng có đi học chứ!”
“Nhưng rủi có vấn đề gì đó về tâm thần thì chắc là không đi học.”
“Hay… anh thất chí về chuyện học hành, hay tình cảm?”
“Hay anh bị ba má rầy la?”
“Chẳng hiểu. Còn bé quá, mới hai mươi.”
“Bé gì nữa? Bằng tuổi Út nhà mình.”

Hai chị em khi gặp nhau thường chia sẻ, bàn luận về những tin hay được đăng trên báo, TV hay internet. Những câu chuyện thật, nóng bỏng vì mới xảy ra. Em nhìn kỹ bức ảnh của Nick, chợt giật mình vì có một nhận xét, nhưng chưa kịp nói thì có tiếng chuông từ phone tay của chị. Chị xem tin nhắn. Chị thốt lên “Trời!”, rồi đưa cho em xem. Là một tấm ảnh. Tấm ảnh do cậu con trai chụp gửi mẹ. Nhưng không giống như những lần cậu đi chơi chụp hình mình đứng trong một phong cảnh, hay đi ăn chụp hình mình ngồi với đĩa thức ăn để chia sẻ với cha mẹ về những nơi mình đến. Bức ảnh vừa được gửi tới chụp vỏn vẹn một cái lò microwave. Nhưng là một cái lò microwave có dán băng keo xung quanh cánh cửa. Em cũng thốt lên:
“Trời! Cái gì đây? Cháu chụp hình như vậy là ý sao?”
Chị nói:
“Vậy là cái microwave… đã bị cấm dùng.”
Chị giải thích:
“Cháu muốn cha mẹ coi cho biết tình trạng ăn ở của cháu mà thôi. Cái ông chủ nhà này kỳ lắm em à! Ông cho các sinh viên thuê phòng ở trong nhà của ông, tiền thì ông thu đàng hoàng, nhưng khi con mình về ở rồi mới thấy ông lạ lùng làm sao! Ông không cho các cháu uống nước lọc của ông, cho nên các cháu phải tự đi mua nước mà uống. Còn về chuyện hâm thức ăn thì mới đầu ông nhắc các cháu phải giữ vệ sinh, sau này chắc là có cháu nào bê bối làm dơ lò nên ông đã cấm luôn như thế.”
“Kỳ quá ha! Có gì thì ông nói để nhắc nhở các cháu cũng được vậy! Sao ông nỡ làm thế? Các cháu đã đi xa nhà, mà bị đối xử như vậy các cháu sẽ buồn lắm.”
“Chẳng hiểu nữa. Chắc bởi ông khó tính, và hơi bất thường.”
“Ông không thể vì cái bất thường của cuộc đời mình mà khắt khe với các cháu. Vậy cháu có muốn dọn đi nơi khác không chị?”
Chị thở dài:
“Chắc không cần đâu! Vì cháu sắp dọn vào “dorm” (3) rồi, ráng một hai tháng nữa… chắc cũng không sao.”
Chị lặng thinh. “Chắc cũng không sao” nhưng cũng làm cho mắt chị long lanh. Thằng con út đi học xa – nói rằng xa nhưng là ở một thành phố khác trong cùng tiểu bang – làm cha mẹ nhung nhớ cũng nhiều. Không lo cho con từng miếng ăn giấc ngủ như khi cháu ở trong nhà, ai làm cha mẹ mà không buồn? Nhất là cái “cốt Việt Nam” vẫn còn, không “coi là bình thường” như người Mỹ được.

Em cũng buồn, thấy nhớ thằng cháu quá! Cái thằng – nói là “thằng” cho thân, chứ đã là một thanh niên cao lớn rồi – đi đâu về cũng ôm má nó mà hun. Cậu vẫn nhỏ bé đối với ba má của cậu. Cậu chẳng bao giờ ở yên trong phòng riêng, mà chạy ra chạy vào “chơi với má”, nếm các món ăn của má, rồi còn tuyên bố “Má nấu mới ngon”. Cậu cũng là “fan” của ba cậu, vì “Ba là giỏi nhất”. Và cậu bé cũng là đứa cháu duy nhất khi còn bé mỗi dịp lễ là cậu ngóng lên trời, thấy máy bay Delta bay thấp là nói có dì trên đó, đang bay qua chơi với cháu. Thế đấy, làm sao mà không nhớ cậu bé cho được?

Chị mỉm cười:
“Thôi, không sao đâu! Có ra đời, mới thấy quý ba má. Mà em biết không, mỗi khi chị lo lắng hỏi han nhiều, cháu đều nói: Má lo nhiều quá làm sao con lớn?”

Em chợt nhớ đến một đoạn văn của Trần Hoài Thư, ông viết sau khi đưa con vào ở nội trú trong trường đại học:

“Nào ai biết một ngày đứa con phải xa vòng tay đùm bọc. Nào ai biết một ngày cánh chim nhỏ bé lại sổ lồng. Bởi vậy, mẹ con đã khóc như chưa bao giờ được khóc. Khóc thút thít suốt đường. Giấu đôi mắt đỏ hoe khi mang va-ly của con lên lầu nội trú. Và khi từ giã con, xuống lại xe, thì mẹ lại khóc òa.

Ba đã lái xe ra ngoài cổng trường. Mẹ lại van ba lái vào trường thêm một lần nữa. Ba chiều mẹ. Xe đậu dưới lầu. Mẹ ngồi trông lên nói: “Không biết con có quen với đời sống mới hay không. Không biết đứa bạn cùng phòng có kỳ thị hay không. Không biết trái gió trở trời, đau bụng đau dạ nó có xức dầu hay không. ” Ba đổ quạu, gắt:”Mình cứ xem nó còn con nít mãi. Nó đã trưởng thành rồi. Để cho nó tự lập cho quen.” Rồi ba đạp ga lái ra ngoài đường. Ba phải có quyết định dứt khoát. Nếu không mẹ cứ ngồi ở đây suốt cả đêm.

…Xe lại về nhà. Ba mẹ bước vào cửa. Cõi trống vắng đến đứt đoạn sững sờ. Mẹ vào phòng con, rờ tay lên tấm drap, tấm chăn, chiếc gối. Hình như trong từng thước khối của không khí đều vướng vít hình ảnh con, tiếng cười, tiếng nói của con. Ở đâu cũng thấy con, trên sofa, mở lại TV, nghe lại bản nhạc, thấy cái show quen thuộc… Rõ ràng ba me đã không chuẩn bị cho một sự chia ly, dù sự chia ly ấy chỉ là tạm thời, và khoảng cách ngăn chỉ trên dưới trăm dặm…

…Mẹ bảo mẹ muốn đi chợ một lát. Mẹ ra xe rồ máy. Còn lại ba một mình. Ngực ba như nhói bởi một sức nặng vô hình. Đó là khối buồn, cộng thêm khối mất mát, khối nhớ nhung trộn thành vôi hồ đông cứng, bắt ba phải hết ngồi lại đứng, hết nhìn ra ngoài đêm, quay quắt…
Mẹ con đã giấu ba. Mẹ đã lái xe lên trường thêm một lần nữa. Lên đó để làm gì? Ngồi trong xe và nhìn lên. Vì sao? Không ai có thể cắt nghĩa nổi.” (4)

Rồi bỗng em thở dài. Em nhớ đến thời gian xa xưa, khi em quyết định ra trường sẽ đi xa. Con gái mà đòi đi xa??? Đó là điều mà một gia đình khá cổ kính như gia đình mình khó tưởng tượng. Vậy mà em đã ghi vào phần nguyện vọng: “Xin đi Lâm Đồng”. Vậy mà nguyện vọng của em đã được chấp nhận. Đoạn đường có hơn ba trăm cây số. Thế nhưng ai cũng hiểu rằng: em đi như vậy là sẽ chẳng có cơ hội trở về. Ra trường, đi xa, làm việc, là hết cơ may về lại gia đình, vì… phải “cắt hộ khẩu”, nói theo ngôn ngữ thời đó. Ngày đi, mọi người trong nhà ra tiễn. Ba má buồn rầu. Chị thì khóc. Nhỏ bạn nhìn đăm đăm như muốn ánh mắt của mình có thể níu chiếc xe đừng chạy. Và vậy là con nhỏ yếu đuối như sên có một đoạn đời đi xa. Rừng núi chập chùng. Mây mù che kín. Càng lên cao, trời càng lạnh. Con nhỏ khóc. Khóc như em bé thiếu ăn. Chưa từng nghĩ ra rằng mình đang rứt khỏi mái gia đình. Cảm giác hụt hẫng: đi không trở lại!

Thành phố mù sương, quê hương của mình đây, nhưng hiện ra dưới một bộ dạng khác. Sở cho xe ra đón về. Chà, oai ra phết! Về tới nơi là đã sau giờ tan sở. Chị “nhà trưởng” bảo đã có cơm trong bếp – bếp tập thể – để phần cho những người mới đến. Mấy đứa vào gian bếp lạnh ngắt, trông thấy nồi cơm to tướng. Có một chảo su xào. Giở nắp nồi cơm: chỉ có một phần gạo, hai phần còn lại là “bo bo”. Cứng, nhai không nổi. Nước mắt ứa ra. Nhớ nhà. Đó, mình đã chọn lựa đi xa mà! Mình thuở đó cũng là “muốn lớn”.

Rồi cái gì cũng quen hết. Hết khóc. Rồi yêu cái nơi chốn mình đến. Ăn độn cũng quen. Quen sống trong “nhà tập thể”. Quen luôn cả nhịn không xài các món “nhu yếu phẩm” để gửi về cho má.

Chị thỉnh thoảng lên thăm, thấy em xa nhà tội nghiệp, chị cũng buồn. So với em, chị thấy mình “chưa lớn”, vì còn “sống trong nách cha mẹ”, làm công chức “sáng cắp ô đi tối cắp về”, chị tự cười mình như thế. Là con gái lớn, tự thấy có trách nhiệm với cha mẹ và các em nhiều lắm. Mà chị cũng tự nhận rằng mình chưa bao giờ có những quyết định táo bạo như nhỏ em của mình. Chị “hiền” lắm!

Vậy mà đến một ngày, sau khi lập gia đình, chị đã có một quyết định hơn cả cái “táo bạo” của em. Chị từ giã ba má trong nước mắt, bước chân xuống thuyền. Chị cùng anh ra biển.

Như vậy đó, ai cũng thế, ít nhất một lần trong đời, quyết định rời nhà mà đi.

Em ở bên này vừa làm việc vừa lao động. “Lao động là vinh quang”, như người ta nói thế. Cuối tuần đi cuốc đất trồng khoai trồng bắp. Chị long đong sống trong trại tị nạn. Một ngày kia, chị đến vùng đất mới.

Cả nhà tưởng mất chị luôn. Bây giờ không là đoạn đường mấy trăm cây số, mà là một đại dương.

**

“Cái số của em, cứ thỉnh thoảng lại đi chị ạ!”
“Em có sao thiên di chiếu há!”
“Nhưng con người có những lần rời nhà thật khó quên. Như chị, lần vượt biên đó!”
“Ừ, khó quên lắm!”
Chị bâng khuâng. Có những người như chị, đi đến bến bờ. Có những người không bao giờ tới đích, chôn thân trong lòng đại dương. Có những người đến nơi mà cả đời mang một vết đau khó xóa mờ.

Chị bảo lãnh lần lượt từng đứa em. Từng đứa, từng đứa, lại rời nhà, rời ba má mà đi.

Chị nói:
“Còn nữa, có những lần đi đáng nhớ, như mấy chú của mình. Chú Tư, rời nhà khi tuổi bằng Út bây giờ, lẳng lặng không ai hay. Một ngày kia có người lặng lẽ đến ném vào sân nhà một mảnh giấy xếp thật nhỏ, báo tin chú đã mất. Nỗi đau cũng lặng lẽ, nhưng tái tê. Cái thời mà ai cũng hăng hái lên đường…”
“Lạnh lùng vung gươm ra sa trường, ha chị!” (4)
“Ừ. Rồi cũng là rời nhà, mà chú Năm rời nhà đi vào một nơi chưa rõ là nơi nào, cứ tập trung rồi biết. “Học tập”, nghe rất hay. Không biết “học tập” cái gì… Rồi thì “mút mùa” luôn, em nhỉ!”
“Vâng. Tuổi trẻ, ai cũng muốn làm một cái gì đó. Có khi vì lý tưởng, có khi vì óc mạo hiểm, muốn khám phá. Có khi vì muốn phá vỡ những sinh hoạt đều đặn, nhàm chán.”
“Cậu Nick kia chắc cũng vậy, muốn làm một cái gì khác lạ cho cuộc sống đỡ nhàm chán chăng?”
Em thốt lên:
“A, trở lại chuyện anh chàng Nick. Em tính nói cho chị nghe điều này, lạ lắm!”
“Chuyện gì đó?”
Em mở lại trang tin trong computer, chỉ vào tấm ảnh cô phóng viên AP chụp Nick, hỏi:
“Chị nhận thấy gì không?”
Chị nhìn kỹ tấm ảnh. Chợt chị nói nhanh:
“Ôi! Chị thấy rồi! Anh này nét mặt giống như… một diễn viên đóng vai… Christ.”
“Em thì thấy rõ ràng cậu rất giống Jesus.”
Hai chị em cùng reo lên:
“Hay quá!”
“Chị em mình “tư tưởng lớn” gặp nhau!”
“Không, đúng ra là vì Nick giống Jesus lắm.”
Em bâng khuâng:
“Nếu vậy thì không phải cậu bị tâm thần, hay bị ba má la rầy, hoặc thất chí thất tình gì hết. Cậu muốn rời nhà mà đi để chiêm nghiệm cuộc sống của những người không nhà, những người nghèo.”

Cái hình ảnh Nick tựa khuôn mặt bên vỉ lưới, gần những người “homeless” bỗng như sinh động hẳn lên. Chị nhớ có lần Cha xứ kể chuyện Chúa Jesus năm ba mươi tuổi đã rời nhà đi vào sa mạc, nhịn đói bốn mươi ngày. Đức Jesus đã không dừng lại nơi các bãi cỏ xanh hay bờ cát mịn bên dòng sông Jordan, mà chọn sa mạc Judah, nơi Ngài đương đầu với những cám dỗ, thử thách và cạm bẫy. Chấm dứt bốn mươi ngày chay này rồi Ngài mới về lại để giảng đạo. Còn em liên tưởng đến chuyện Thái tử Tất Đạt Đa một hôm rời bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con khôn, hòa nhập với nhân gian khổ ải để tìm con đường tự giải thoát bản thân và giải thoát cho nhân loại. Ngài đắc đạo và trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Cùng lúc, hai chị em nghĩ đến hình ảnh một chàng Nick sau này, biết đâu sẽ trở thành một nhà hoạt động xã hội, có những sáng kiến giúp đỡ những người cùng khổ.

Tháng 2, 2014

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Chú thích:
(1) Steam grate: lò sưởi dùng hơi nước trong hệ thống sưởi ở các thành phố lớn như New York City.
(2) http://www.news.com.au/world/family-finds-missing-man-nicholas-simmons-after-ap-photo-published-in-usa-today/story-fndir2ev-1226795844108
(3) Dorm: ký túc xá
(4) “Cho con mùa tựu trường” – Trần Hoài Thư
(5) “Bao chiến sĩ lên đường, lạnh lùng vung gươm ra sa trường”, một câu hát trong bản “Chiến sĩ Việt Nam”, nhạc tiền chiến của Văn Cao.

Thư Quán Bản Thảo số 59 (tháng 3/2014)

 

 

 

HÌnh: internet

1

Trong ánh sáng dìu dịu của ngọn đèn chong nhỏ, tôi thấy Ba tôi ngồi như một cái bóng mờ. Tôi rón rén đến gần. Ba nhìn lui. Tôi hỏi nhỏ:
“Sao Ba không mở đèn sáng lên hở Ba?”
“Ba xong rồi.”
Tôi đặt tách trà gừng lên bàn, liếc nhìn màn hình computer. Chỉ có tấm ảnh gia đình, Ba thường cho nó “hiện lên” sau khi đã làm xong việc. Tôi hơi mỉm cười, mừng vì Ba có thể nghỉ ngơi sớm.
Tôi kéo một chiếc ghế lại để ngồi gần Ba. Ba hỏi:
“Hôm nay chuyến đi của con thế nào?”
“Dạ vui, mà cũng buồn Ba à!”
“Kể Ba nghe.”
“Chỗ nursing home này vui vì có nhiều người Việt. Họ cùng ca hát với mình vì những bài hát khá quen thuộc với họ. Mà buồn vì cũng có nhiều người không thể thưởng thức, không thể hòa mình được. Họ ngồi ủ rũ, lờ đờ.”
“Tội nghiệp! Nhưng chắc là họ có nghe, có nhận được hở con?”
“Dạ con tin là thế. Bởi vậy con thấy buồn. Nhiều người là cựu quân nhân Ba à!”
Dù đèn mờ, tôi vẫn thấy được Ba nhíu mày. Ba thở dài nhè nhẹ…
“ Ba ơi, nếu có thể quay ngược lại như một cuốn phim, con tưởng tượng những người đó sẽ đứng lên, vui cười, đàn hát. Họ trở lại thời tuổi trẻ…”
Ba gật đầu:
“Phải, nếu có thể…”
Tôi chợt nhìn Ba thật kỹ. Ôi, nếu tôi có phép thần làm thời gian quay ngược lại, tôi sẽ thấy Ba của thời trai trẻ. Ba đang ở trong trường lớp. Ba đang ở trong quân trường. Ba đang ở ngoài mặt trận. Sinh động quá, Ba của tôi! Nhưng đó cũng chỉ là những điều tôi tưởng tượng ra mà thôi! Vì tôi đâu có thấy Ba những lúc như vậy ngoài đời thật. Tôi chỉ biết “Ba lúc trẻ” qua những tấm ảnh còn lưu lại, cất trong quyển album gia đình với những trang giấy bọc plastic đã cũ vàng. Tôi còn quá nhỏ lúc đi theo Mẹ vào thăm Ba ở nơi gọi là “trại cải tạo.” Lúc đó, Ba trông rất cằn cỗi mặc dù tuổi còn khá trẻ. Tôi là đứa con gái út, ba tuổi, được Mẹ bế trên tay khi đi vào trại. Lóc ca lóc cóc đến lần thăm Ba sau cùng tôi đã là một cô bé mười lăm tuổi. Ba đi hết trại này đến trại khác, trong Nam ngoài Bắc. Khi Ba ra khỏi trại tù, mái tóc Ba đã bạc hơn một nửa. Ôi! Nếu tôi có thể quay ngược được thời gian để thấy Ba trẻ lại…

 

2

Ba chuyển hết những bài Ba viết cho tôi đọc để tôi sửa lỗi đánh máy nếu có. Đó là những trang quân sử. Ba nói khi còn đi học, Ba rất say mê môn Sử. Trải qua thời gian sống trong quân đội, Ba càng nặng lòng với môn này, lúc đó không còn là môn học bắt buộc nữa, mà trở thành một niềm đam mê. Bây giờ, hằng ngày, hằng đêm, Ba miệt mài viết. Trước thì viết, sau là “gõ”. Ban đầu các con phụ “gõ” cho Ba, sau Ba tập dùng computer và tự mình gõ. Bây giờ chúng tôi “gõ” không lại Ba đâu! Ba nói chiếc máy computer đã giúp con người được tự do. Ba tra cứu tài liệu, kết hợp với kinh nghiệm chiến trường của Ba, ghi lại những dòng, những trang khiến chúng tôi say sưa đọc. Không chỉ là những sự kiện, mà còn có trong đó mồ hôi, nước mắt, máu và thịt xương.

Công việc của Ba là một công việc lâu dài. Chưa biết lúc nào Ba sẽ dừng. Ba thong thả ngồi trước máy, gõ chăm chỉ. Có khi chúng tôi đưa Ba đi thư viện để Ba xem sách, tìm kiếm tài liệu cho đúng ý. Từ ngày Ba bị té sái khớp bàn chân, chúng tôi không cho Ba lái xe nữa.
Có khi tôi bắt gặp Ba ngồi trước ảnh của Mẹ, nói lẩm bẩm những gì tôi nghe không rõ. Đôi lúc Ba mỉm cười thú vị, nhưng cũng có khi Ba lau nước mắt. Ba sống với kỷ niệm vui buồn. Ba xem như Mẹ còn sống bên Ba. Nhưng Ba lại cũng rất thực tế, đúng vậy. Ba giúp các con các cháu khi chúng cần đến Ba. Ba không phàn nàn, không trách móc, không đòi hỏi. Ba nói Ba rất may mắn vì Ba vẫn còn hữu dụng. Ba nói khi nào Ba yếu quá rồi thì các con đưa Ba vào viện dưỡng lão, vào “nursing home”. Nhưng anh em chúng tôi không chịu. Chúng tôi dư sức chăm sóc Ba mà! Tôi là con gái út chưa muốn lập gia đình, tự nguyện chăm sóc Ba. Anh chị tôi chia nhau ngày nào cũng có người đến thăm, khi Ba bệnh thì ở lại đêm để phụ tôi lo cho Ba. Chuyện đơn giản như thế.

 

3

Sau giờ làm, tôi đưa Ba đến viếng đám tang một người bạn của Ba. Bác ấy mất trong viện dưỡng lão. Thời gian gần đây Ba vẫn có những cuộc “viếng thăm” như vậy. Ba đứng rất lâu trước quan tài người bạn, Ba nói như thì thầm với người nằm trong đó. Khi ra về, ngồi vào xe, thấy tôi có vẻ ái ngại, Ba nói:

“Ba không sao đâu, con gái!”
Tôi nắm chặt bàn tay Ba, an ủi:
“Ba, con biết Ba rất buồn.”
“Phải, Ba rất buồn vì mất một người bạn. Nhưng Ba rất vui vì Ba đã từng có được một người bạn quý như vậy.”
“Ba!”
“Con biết không, bác ấy là một người “chiến sĩ” đúng nghĩa của nó. Tuy là một vị chỉ huy, nhưng bác ấy sống gần gũi với anh em trong đơn vị, sống đúng với nghĩa “chia ngọt sẻ bùi” con ạ. Khi bác ấy qua bên này, bác ấy đi làm cực khổ nhưng vẫn gom góp gửi tiền về giúp các anh thương binh nghèo khổ trong nước. Bác ấy thương đồng đội, thương lính như thế!”
Tôi vui lây với lời kể của Ba, tôi nhắc:
“Ba, Ba cũng thương đồng đội, thương lính vậy. Ba chẳng đã nói rằng Ba còn vô số mảnh nhỏ trong người chưa gắp ra hết, vì Ba che cho lính khi trái mìn nổ.”
Ba cười:
“Ừ, Ba không chết là may!”
Hai cha con về đến nhà. Ba lại ngồi vào bàn viết. Thế mà tôi vẫn cứ lo Ba ủ dột, buồn phiền. Nhìn Ba ngồi gõ bài, bỗng tôi có cảm tưởng Ba đang chạy đua với thời gian. Đừng, Ba ơi! Con muốn Ba sống lâu với con!

 

4

Tôi lại đưa Ba đến một nơi. Là bệnh viện. Ba đến thăm một thuộc cấp của Ba ngày xưa. Chú ấy vừa qua một cuộc giải phẫu. Dù còn mệt mỏi, chú ấy tỏ vẻ rất vui khi thấy Ba. Ba hỏi:

“Chú ra sao?”
“Dạ thưa niên trưởng, em… còn sống ạ!
Ba phì cười:
“Tốt!”
“ Niên trưởng coi, còn cái chân để cà nhắc qua ngày mà ông bác sĩ cũng lấy luôn. Thiệt khổ ghê!”
Tôi nghe quặn thắt cả ruột. Nhưng hai người anh em kia vẫn trêu nhau vui vẻ. Nước mắt tôi chực trào ra. Chú ấy đã bỏ lại một chân trên chiến trường. Sau này gia đình bảo lãnh chú qua Mỹ sống cũng tạm yên. Cái chân còn lại, do chú bị bệnh tiểu đường, bị hoại tử phải cắt bỏ. Từ nay chú sẽ có thêm một người bạn đồng hành là chiếc xe lăn.
Người vợ mang cháo đến, đút cho chú ăn. Chú còn trêu vợ:
“Anh còn tay mà em!”
Rồi quay sang Ba, chú nói:
“ Em còn may mắn quá phải không niên trưởng?”
Ba gật đầu cười. Tôi thấy trong mắt Ba dâng lên một niềm cảm động.

 

5

“Con lại đi với Ba chứ?”

“Dạ có, Ba! Anh chị và các cháu cũng đi nữa.”
Lần này là ngày Chủ nhật. Tôi đưa Ba đến nhà sinh hoạt cộng đồng. Đây không những là nơi có những hoạt động tương thân tương trợ mà còn là nơi tổ chức những sinh hoạt văn hóa lịch sử để cho lớp trẻ sinh trưởng trên đất Mỹ tìm hiểu về nguồn cội và không quên mình là người Việt. Theo từng thời điểm trong năm, nhà sinh hoạt tổ chức lễ giỗ các vị anh hùng dân tộc của Việt Nam. Ba cùng quý vị bô lão thắp hương trước bàn thờ Tổ Quốc. Rồi Ba chia sẻ một bài nói chuyện về Hồn Thiêng Sông Núi. Đó là một giá trị thiêng liêng vẫn luôn có trong lòng những người con dân nước Việt. Nhiều người trẻ sau đó đến gặp Ba để nghe Ba khuyên bảo, tâm tình.

Và cũng như mọi lần, khi về đến nhà, Ba lại ngồi vào bàn viết. Ba gõ thư thăm các bạn của Ba ở xa. Tôi mang đến cho Ba một tách cà phê theo yêu cầu. Ba muốn được tỉnh táo để viết nốt chương sách về những ngày khói lửa mà Ba có mặt trong đó. Tôi sợ Ba mệt. Nhưng không, Ba gõ một hơi không nghỉ. Rồi sau đó, Ba kêu tôi lại, bảo tôi ngồi gần bên, nghe Ba nói.

“Tướng Mac Arthur dẫn một câu trong bản ballad nước Anh, một bản “nhạc lính”, khi ông đọc bài diễn văn tại Quốc hội Mỹ trước khi chấm dứt binh nghiệp. “Old soldiers never die, they just fade away.” Câu này nhiều người đã trích lại, đã lấy làm cảm hứng làm thơ, đặt nhạc. Có người thấy câu nói này đầy tính tích cực, tôn vinh người lính. Nhưng cũng có người cho rằng người lính khi về già thật là buồn, như một cái bóng mờ nhạt.

“Những người lính Việt Nam ở thế hệ của Ba, bên chiến tuyến của Ba, có một thân phận rất đặc biệt. Họ đã từng có và rồi như đã mất đi. Họ mất quê hương. Và có khi họ không còn nhìn ra chính mình. Có khi họ nghĩ rằng thà chết đi trên chiến trường lửa đạn khi họ còn là người lính trẻ mà hay. Còn những người lính già, khi sống cuộc đời lưu vong hay ở lại trong nước, họ có những nỗi buồn riêng. Ba có cái nhìn của Ba. Ba nghĩ xa hơn cái thân phận của mình. Ba tin rằng Thượng Đế đặt cho mỗi người một nhiệm vụ, và cho họ ánh sáng để nhìn thấy nhiệm vụ đó. Ba đã chiến đấu với chính mình để thoát ra khỏi sự dằn vặt đến quằn quại sau chiến tranh, tình xót xa đối với chiến hữu, lòng thương nhớ quê hương mà mình đã phải bỏ lại mà đi.”

“Con hiểu Ba. Ba ơi, khi con thấy Ba hết lòng gắn bó với thế hệ trẻ, thương yêu bạn bè đồng đội, con biết người lính già này rất đáng kính. Ba chọn đứng khiêm nhường như một vai phụ trên sân khấu, chỉ mờ đi, nhưng là một điểm tựa rất vững chắc cho chúng con. Con hãnh diện lắm Ba à!”

 

6

Hôm nay đẹp trời, nhưng Ba không đi đâu. Ba dành một buổi gọi điện thoại cho bạn bè. Xem ra Ba vui lắm. Tôi chỉ “bị nghe lóm” những câu chuyện của Ba cũng đủ thấy vui theo rồi.

“Ông tướng, còn sống hở? Ông có nghe lời tôi, "scan" hình gia đình lại chưa? Chưa được hả? Thì kêu “sắp nhỏ” nó giúp mình. Đời này con trẻ giỏi hơn người lớn rất nhiều. Mình đừng có tự ái, kêu nó bày cho. Ông mà làm ra cái album gia đình, chắc chắn ông sẽ vui lắm, mà con cháu sẽ phục ông sát đất. Chúng nó sẽ có tài liệu quý giá về gia đình, không phải ai cũng làm được đâu!”

“Ông bạn già, khỏe không? Sao, quyển hồi ký của ông viết đến đâu? Quên cái gì, bảo tôi. Tôi quên cái gì, sẽ tìm trong tài liệu vậy. Trí nhớ của mình bây giờ nhiều khi không như mình muốn. Nhưng lớp già như bọn mình, viết hồi ký để lại cho con cháu đọc để biết cái đời của mình ra sao, là điều đáng làm, và cũng là để “tập thể dục” cho trí óc của mình nữa. Tôi biết tính ông, thích cái gì trung thực. Viết hồi ký là phải trung thực. Chính vì thế mà tôi rất quý ông đấy, ông bạn!”

“Em, sao rồi? Vết thương cũ lại hành phải không? Anh cũng vậy thôi, trời động là nhức lắm. Biết sao hơn bây giờ? Không ai gánh cái đau giùm cho ai được. Thôi mình chấp nhận em à! Đồng hành với cái đau. Vợ con em khỏe không? Mấy cháu chắc ra trường hết rồi? Các cháu có việc làm chưa?”

“Em, khỏe không? Gia đình thế nào? Bên nhà trời mưa nhiều không? Ngõ vô nhà em chắc ngập hết? Cần gì em cứ nói cho anh biết, đừng ngại. Anh giúp được gì sẽ ráng giúp. Em đừng buồn. Dù cho chế độ đó có ruồng rẫy anh em, nhưng lòng dân vẫn thương quý và biết ơn anh em.”

Tôi vào bếp nấu nướng một lát, quay lại thấy Ba còn chuyện trò trên điện thoại. Ba đi qua đi lại, như một ông thầy giáo đang say sưa giảng bài. Tôi lại được “nghe lóm”:
“Chú à, đến ngày Trời kêu mình đi, thì mình đi thôi. Gánh đời buông xuống. Cốt sao mình sống cho vui vẻ. Vui với gia đình, con cháu nếu có. Vào nursing home cũng chấp nhận. Cũng có những người như con gái tôi vào giúp cho mình, an ủi, ca hát với mình. Ai rồi cũng sẽ ra đi, mình cũng như bao người, không có gì lạ. Chỉ có một điều khác: đó là mình đã từng là người lính. Tôi hãnh diện về điều đó. Tôi không oán hận, mà tin tưởng vào tương lai…”

Ba quay lại, nói với tôi:
“Là chú hôm trước mình vào thăm trong bệnh viện đó con! Sức khỏe khá lên rồi. Mới khoe với Ba là chú ấy đã cầm điện thoại lên, “on air” trên cái đài của chú ấy, đài nói tiếng Việt. “Chì” thật!”

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Hình: internet

 

 

alt

 

Ông dừng xe lại trước một con đường nhỏ rẽ vào một khu dân cư. Phong cảnh này… ồ, trông quen quá! Ông cố moi óc xem mình đã thấy nó ở đâu. Một con đường đầy những cây phượng tím trồng hai bên. Ông quẹo vào, và đậu lại bên lề. Ông bước ra khỏi xe. Màu tím của những bông hoa này ông không thể nói rằng gợi cho ông cảnh ở Việt Nam được. Việt Nam không có phượng tím. Nhưng cái dáng cây, hai hàng cây tăm tắp, những hạt nước mưa còn đọng trên lá như những giọt lệ, lại đang khiến một cái gì bật ra từ trong trí ông, như thể lâu nay nó đã nằm nghỉ thật sâu.


A! Ông như thấy lại những chuyến xe tất bật ra vào con đường này. Những chiếc xe lấm lem bùn đất. Những chiếc xe mang dấu hồng thập tự. Có những người tài xế mặc đồ “xi-vin”, và cũng có những người tài xế, những nhân viên mặc đồ lính. Ông thấy mình đang nằm trên một chiếc “băng-ca”. Ông không cần ngước lên mà cũng đã thấy được trời xanh mây trắng. Ông nghe được cảm giác đau đớn đến như tê dại ở cánh tay. Ông ngửi được mùi thuốc mê. Và ông hết ý thức…


Tiếng chuông từ chiếc cell phone trong túi áo vang lên. Ông giật mình. Những cảnh trong trí vụt biến mất hết. Ông bắt máy, nói theo phản xạ:
- Hello!
- Ông! Ông ở đâu, sao chưa thấy về ăn cơm?
- Hả???
- Ông! Tôi đây nè! Ông đi đâu vậy?
- Ơ….
- Ông!
Ông ngơ ngác. Ông định thần một giây nữa, và đã nhận ra tiếng của bà. Ông đáp vội:
- Tôi đang ở… ở…
- Ở đâu?
- Tôi… - Ông ngó quanh-  Tôi đang ở…
Giọng nói bên kia nghe rất sốt ruột:
- Ông nói nhanh lên! Có chuyện gì?
- Ơ… không… Tôi không biết… ở đâu…
- Ông nói gì kỳ vậy? Ông lái xe phải không?
- Phải.
- Xe.. có bị mất không?
- Không. Xe vẫn đang ở cạnh tôi đây.
- Vậy ông làm gì? Ông đang ở đâu? Ông… ông dòm cái tên đường, nói cho tôi biết đi!
- À… à, - Ông tiến đến dòm bảng tên đường – Dalton Drive.
- Ông tới đường đó làm gì?
- Tôi… tôi không biết.
- Làm sao ông tới đó?
- Tôi lái xe… nhưng … tôi không biết làm sao tôi tới đó.
- Thôi ông ơi, để tôi nhờ mấy đứa nhỏ giúp. Ông đứng đó, đừng đi đâu hết nhé!

 

2

Đường Dalton. Đường phượng tím. Con đường đẹp đến quen thuộc… Ủa, mà làm cách nào mình đã đến đó? Mình lái xe mà!.. Ông chơi vơi trước câu hỏi của gia đình và của chính ông. Ông bắt gặp vẻ mặt lo lắng của bà, và ánh nhìn nghi ngại của thằng con. Trong bữa cơm chiều, ông gắp và đưa đẩy thức ăn vào miệng như lấy lệ. Ông cũng còn hoang mang lắm. Ông từ từ nhớ ra là mình đã ngồi vào xe và lái đi như có ai dẫn dắt. Nhớ ra được rồi thì ông lại càng hoang mang hơn. Ôi! Ông đã làm cái gì vậy???


Ông đến trước tủ lạnh, toan mở tủ lấy đĩa trái cây, nhưng ông dừng lại. Ông thấy trên mặt cửa tủ lạnh, gắn đầy những tờ “sticky notes” trên đó ghi những câu nhắc nhở: “Nhớ uống thuốc bổ lúc 6 giờ tối”, “Nhớ gọi điện thoại cho bác sĩ ngày thứ ba”, “Nhớ ghi địa chỉ nhà bác Châu”… Ông thấy bần thần quá! Ông trở lại bàn, ngồi lặng thinh.


Bà trở lại sau khi ra phòng ngoài nghe điện thoại. Bà hơi nghiêng đầu, hỏi ông:
- Ông không sao chứ?
- Tôi OK.
- Ông xem mà đi nghỉ sớm đi nhé!
- Ừ. Mà … bà này! Tự nhiên tôi muốn mình đi thăm bác Châu. Lâu quá không thăm bác. Chắc bác cũng bận đi đâu nên không thấy bác ghé mình.
Bà kêu lên thảng thốt:
- Kìa! Ông!
- Hả? Chuyện gì?
- Ông nói gì vậy? Hôm qua, nhà mình mới đi… phúng bác Châu. Bác ấy mất rồi! Ông quên rồi sao?
- Hả???
Bà im lặng. Ông cũng im lặng. Không biết được bao lâu, rồi ông nghe bà nói khẽ:
- Ông đi nghỉ sớm nhé! Tôi đi tụng kinh đây!
- Ừ, đi… tụng kinh.
Ông cười nhẹ như để làm bà yên tâm.
Bà quay đi rồi, ông thơ thẩn ra sân. Ông đã nhớ lại, hôm qua cả nhà vừa mới đi đám bác Châu.

 

3

Ông cầm cây đàn lên. Đã lâu ông không đàn. Cây đàn guitar này là của thằng cháu nội. Ông nhớ một đoạn nhạc của Glen Campbell và ông khe khẽ hát. Bỗng nhiên trong tâm tưởng của ông, như một đợt sóng, những hình ảnh từ thuở xa xưa nào lần lượt sắp hàng trước mắt. Ông thấy mình và một bạn đồng đội đến trước căn nhà của bác Châu, ở một khu ngoại ô Sài Gòn. Hai bác cùng xuất hiện ở cửa, mời họ vào. Hai người lính, áo còn khét mùi chiến trận, vào nhà, và không dám ngồi. Trong một nghi thức tự lập ra, họ đứng nghiêm chào hai bác Châu, và báo tin con trai của họ đã tử trận. Ông thấy ông và bạn mình đứng thẳng, đông cứng như hai pho tượng bằng nước đá. Ông nghe tiếng kêu khô khan của bác Châu trai và tiếng nấc của bác Châu gái. Một hình ảnh khác tiến lên che mờ khuôn mặt của hai bác. Đó là gương mặt của người chiến hữu đang ngã xuống giữa khói đạn mịt mù. Ông thấy mình đang vuốt mắt cho bạn. Rồi ông thấy mình đang băng qua một hào sâu, tiếp tục cuộc chiến. Ông nghe một cái gì nhọn và nhỏ xoáy vào da, rồi cắm vào thịt rất nhanh, rất sâu, đi qua mạch máu. Ông ôm cánh tay, lết vào một chỗ nấp. Máu chảy quá nhiều. Ông nhắm mắt, nghiến răng chịu đau. Người lính cứu thương chạy đến gần. Ông như lịm đi…


Những cảnh gián đoạn trôi qua như trong một cuốn phim bị đứt. Ông thấy lại cảnh bệnh viện bên một con đường trồng đầy cây còng. Phải rồi! Cây còng. Ông nhớ như in. Hoa màu hồng nhưng sau những cơn mưa trông sao buồn quá! Ông hiểu vì sao nhìn cây phượng tím ông lại liên tưởng đến những con đường cây còng. Ông mỉm cười. Có một chút gì vui vui, như thể ông đang được xem một cuốn truyện cũ mà mình từng rất thích.


Bà đến ngồi bên ông. Ông nhìn qua, cười nhẹ:
- Bà muốn nghe hát không?
- Có.
- Bà muốn nghe nhạc gì?
- Gì cũng được. Ông đang chơi nhạc của Glen Campbell?
- Ừ. Tôi chơi tiếp nhé! Mà bà này, hình như Glen cũng bị…
- Bị gì? Ông hát đi! Bị gì… kệ người ta – Bà nói như át lời ông.
- Được. Bà không muốn tôi nói thì thôi. Tôi hát mà có quên lời thì bà nhắc nhé!
- OK.
Ông cười xòa. Rồi ông hát. Ông không quên một chữ.
“Galveston”. Gương mặt Glen Campbell thời trai trẻ hiện ra như đang song ca với ông. Ca sĩ thần tượng của ông, cùng tuổi với ông đấy! Ông thường nói với bà: “Tay này sướng hơn tôi nhiều, đâu có ra chiến trường như tôi, nhưng tôi cám ơn ổng vì ổng cho tuổi trẻ của mình những bản nhạc hay”.

“Galveston, oh, Galveston
I am so afraid of dying
Before I dry the tears she's crying
Before I watch the sea birds flying in the sun…”

Ông dừng lại đột ngột. Bà nghĩ rằng ông quên lời. Bà nhắc:
- ... at Galveston.
Ông nhìn bà. Ông như người mê. Tôi sợ tôi chết trước khi tôi lau khô nước mắt của nàng, trước khi tôi được nhìn ngắm những cánh chim hải âu bay trong nắng… Ôi! Ông sợ ông sẽ quên trước khi ông nhớ được hết mọi điều. Bảy mươi mấy năm là một đoạn đời dài. Phải nói là những đoạn đời rất dài, nối với nhau ở những ngã rẽ. Ông đã để những đoạn đời lắng chìm. Đôi khi ông nhớ lại, nhớ rất rõ. Nhiều khi ông quên mất.


- Bà này! Tôi muốn nói với bà chuyện này, mà bà đừng có la tôi đấy!
- Ông nói đi. Về chuyện gì?
- Về Glen Campbell.
Bà như kêu lên:
- Lại nữa!
- Bà nghe này, Glen sẽ làm một “tour” hay một buổi “chia tay”, thấy cũng hay hay…
Bà ngập ngừng:
- Ông … ông muốn nói…?
Ông cười to:
- Bà khoan hiểu lầm đã. Tôi thì không. Hãy để cái gì đến sẽ đến. Tôi không muốn rùm beng đâu! Hơn nữa, mình không phải là nhân vật nổi tiếng gì cho lắm. Tôi muốn yên tĩnh.
- Nhưng nói cho mọi người, chia sẻ cho mọi người, thì cũng là một điều hay. Mà… ông ơi, nghe nói bệnh này có xác suất cao ở phụ nữ, sao ông lại…
- Bà lẩm cẩm chưa! Nam cũng bị vậy! Mà đúng ra nam là phải bị nhiều hơn chứ! Nam hút thuốc, nam uống rượu, nam ít vận động hơn nữ. Có gì đáng ngạc nhiên đâu! Có điều nữ bị nhiều hơn nam là ông Trời hơi bất công rồi đó!
- Tôi… tôi rồi… có sẽ bị không hở ông?
- Tôi tin là không. Bà kinh kệ hàng ngày, bà thông minh lắm đó, yên tâm đi!
Hai người cười vang, và lại trêu nhau vui vẻ. Ông như cất đi bớt chút gánh nặng. Nỗi ám ảnh đè lên tâm tư ông hàng ngày. Từ hôm lái xe đi như người mộng du đến khi vào bệnh viện để chẩn bệnh kỹ lưỡng, ông biết đã có một thay đổi rất lớn, như thể cuộc đời lại qua một ngã rẽ khác nữa. Nhưng ông vốn đã tập tính chấp nhận từ hồi còn trẻ, cho nên ông cố gắng bình tĩnh để đón nhận. Ông xin ngồi lại nói chuyện với bác sĩ. Bệnh ông chưa nặng, nhưng không thể coi thường. Bác sĩ cho ông xem hình chụp bộ não của ông, giải thích cho ông nghe về những chỗ có “vật lạ”. Những mảng bám! Người trong chuyên môn gọi đó là “amyloid plaque”. Vị nữ bác sĩ dễ thương lại còn lấy giấy bút ra vẽ và giải thích đơn giản cho ông biết đó là một loại chất đạm “cứng đầu”, bình thường nó tan rã, nhưng ở ông và những người đồng bệnh, chúng tích tụ lại và bám dính giữa những tế bào thần kinh, ngăn cản hoạt động của não. Cô lại vẽ thêm những “mớ tóc rối”  nằm trong tế bào thần kinh, nói rằng đó là thủ phạm gây nên sự hủy hoại của các tế bào này. Đương nhiên là ông nhận được những loại thuốc đặc trị, rồi lời khuyên về một chế độ ăn uống và tập thể dục để “làm chậm tiến trình của bệnh”, ông chăm chú nghe theo.


“Làm chậm tiến trình của bệnh”, ông lẩm bẩm.

 

4

“Cho tôi lại trí nhớ!” – Ông thét vang trong giấc ngủ. Ông choàng tỉnh, thấy bốn bề yên lặng. Người bên cạnh ông vẫn đang ngủ say. Ông nhìn kỹ gương mặt này, nhờ ánh đèn mờ mờ của chiếc đèn ngủ. Trong giấc mơ ông đã thấy lại gương mặt của từng đồng đội. Ông nhớ rất rõ tên của từng người cùng những thói quen tốt hay xấu của họ. Cả những bản nhạc mà anh em cùng đàn hát với nhau khi về hậu cứ. Rồi đến những con sông, những ngọn núi, những khu rừng… tất cả sáng ngời trong một góc trí nhớ như người ta xem một phần sân khấu sáng choang nhờ ánh đèn chiếu tối đa vào. Bên ngoài khoảng sáng đó là một vùng đen thăm thẳm. Ông thức dậy thấy mình ở trong vũng đen ấy. Người bên cạnh ông vẫn ngủ say. Ông moi óc, tự hỏi: “Ai đây?..”

 

5

Ông đón cái cốc từ tay bà. Ông mỉm cười, nói:
- Cám ơn.
Bà nhìn ông hớp từng ngụm nóng hổi. Bà hỏi:
- Vừa uống không ông?
Ông gật gù:
- Ngon lắm, cháo ngon lắm!
Bà kêu lên:
- Ông nói sao?
- Cháo… cháo ngon lắm!
- Ông nè, ông hãy nhìn kỹ tôi pha cho ông cái gì đây!
Ông nhìn vào cốc, rồi bỗng như tắc hết ý, ông lắc đầu, ngơ ngác. Bà nói nhẹ nhàng:
- Cà phê, ông ạ! Ông muốn ghẹo tôi phải không?
- Ơ! Cà phê! Cà… phê!
Bà cười rồi quay đi như coi việc vừa rồi là chuyện ông cố ý trêu bà.


Nhưng ông thì không. Ông không đùa, không trêu. Mấy ngày nay ông đã thấy triệu chứng nhầm lẫn và quên tên những đồ vật thông thường nổi lên rõ ràng. Và đặc biệt hơn cả, đáng sợ hơn cả, là sự việc đêm hôm qua ông thức dậy không nhận ra bà bên cạnh. Ông biết đó là người rất quen nhưng không nhớ là ai, phải gọi là gì. Ông cảm thấy hoảng sợ với chính mình. Nhưng sáng ra thì mọi việc lại không có gì khác lạ. Ông đã mỉm cười chào bà khi bà ra sân, nơi ông đang ngồi sưởi nắng.


Ông đến bên bàn. Ông định thần một lát, nhìn vào cái vật quen thuộc hàng ngày mình vẫn dùng. Nó tên là gì nhỉ? Ông lại chơi vơi trong cái vũng tối. Bà đến bên cạnh, đoán ý:
- Ông định gọi cho ai?
- À… cho cái cô xinh đẹp hôm trước…
- Cô bác sĩ?
- Ồ đúng, đúng, cô bác sĩ. Cô bác sĩ có dặn khi nào muốn hỏi gì thì cứ gọi, không cần phải gặp.
- Vậy ông gọi cho cô ấy đi!
Ông cầm điện thoại lên, tần ngần một lát, rồi đưa cho bà:
- Bà … bà coi số rồi gọi giùm cho tôi. Nhiều số quá!...
Và ông nói chuyện với cô bác sĩ. Ông kể cho cô nghe về những giấc mơ, những hồi ức chính xác ông tìm về, cùng những điều lạ lùng xảy ra như quên tên các đồ vật, quên cách gọi người thân, nhầm lẫn và quên những việc vừa mới xảy ra, sự khó khăn với những con số… Rồi ông nghe cô bác sĩ khuyên nhủ ông hãy bình tĩnh, và cô giải thích về “trí nhớ ngắn hạn”, “trí nhớ dài hạn” bị ảnh hưởng ra sao trong căn bệnh của ông. Ông nghe thì ông hiểu. Nhưng ông e rằng sau đó ông sẽ quên hết. Chắc là cô bác sĩ hiểu điều này hơn nhiều, nên cô xin nói chuyện với bà. Ông trao điện thoại cho bà. Ông ngồi bên cạnh. Bà cũng nói chuyện rất lâu với bác sĩ. Khi bà chấm dứt câu chuyện, ông thấy đôi mắt bà đã đỏ hoe.


- Bà này, tôi không có làm sao đâu!
Bà cười gượng:
- Vâng, ông không có làm sao. Bác sĩ bảo ông ráng uống thuốc theo đúng toa. Ông sẽ khỏi bệnh. Có tôi chăm sóc cho ông, ông vui chứ?
- Vui lắm, tôi sẽ vui lắm! Cám ơn bà.
- Ông cám ơn tôi? Khách sáo vậy?
Ông cười to như để lây sự vui vẻ cho bà. Bà soạn trong tủ ra mấy cuốn album, đặt ngay ngắn trên bàn. Bà lẩm bẩm:
- Mình sẽ coi lại mấy cuốn album này nghen ông! Hy vọng những chuyện cũ ông không quên.
- Phải. Chuyện cũ tôi không quên.
- Vậy ông có nhớ lần đầu tiên hẹn tôi, ông thấy tôi mặc áo màu gì không?
- Không phải màu, mà là áo hoa. Bà mặc chiếc áo dài hoa vàng nền xanh rất nhã. Đúng không?
Bà cười trong nước mắt:
- Ông giỏi!
- Bà ơi, tôi xin bà một điều…
- Ông nói đi!
- Lỡ chăng… đến một ngày nào đó, khi tôi không còn nhớ bà là ai, xin bà đừng giận tôi nhé!
- Sao mà tôi giận ông được? Ông bệnh mà! Nhưng ông hãy vui lên, ông sẽ khỏi bệnh.
- Mình có thể làm chậm căn bệnh lại bà ạ, bác sĩ nói vậy. Làm chậm lại. Còn nếu mình muốn chậm lại mà nó không chậm, thì mình ráng chấp nhận nghen! Tôi cám ơn bà trước, vì lúc đó bà sẽ rất cực với tôi đấy! Bà và các con có thể gửi tôi vào viện dưỡng lão.
Bà ôm chặt lấy ông:
- Tôi sẽ chăm sóc cho ông, nếu trời không bắt tôi bị bệnh như ông.

 

6

Những mảng bám ngày càng nhiều trên óc. Ông có một thế giới khác. Một thế giới của riêng ông. Bà và các con, cùng với một người được thuê để phụ giúp, đã khá vất vả khi chăm sóc cho ông, bởi ông càng ngày càng khó khăn khi tự làm những công việc đơn giản cho chính mình. Cũng khá đau khổ, khi bà nhận thấy mình không còn quen thuộc với ông nữa. Nhưng ông tỏ vẻ vui thích khi nói về chuyện quá khứ. Ông chăm chú xem những cuốn album và nhận ra hết những người trong đó. Bà vui lây. Bà cũng đi vào cái thế giới đó với ông. Chỉ bằng cách đó. Đôi khi bà đứng lại phía ngoài. Bà để cho ông tự mình hồi tưởng, đắm chìm trong những kỷ niệm của đời người. Mỗi ngày hầu như ông chỉ sống cho hiện tại một vài khoảnh khắc ngắn ngủi. Còn với tương lai, ông không thể hoạch định.


Bà không có gì để than trách. Vì ông đã nói hết những lời “cám ơn, xin lỗi” với bà khi ông còn nhận ra bà. Ông chẳng đã hát “Tôi sợ tôi chết trước khi tôi lau khô nước mắt của nàng, trước khi tôi được nhìn ngắm những cánh chim hải âu bay trong nắng” rồi đó ư? Vậy thì hãy để ông sống với những ký ức cháy bỏng một thời của ông, những đoạn đời đáng sống mà ông luôn hoài niệm. Ít ra, trong giai đoạn này, “trí nhớ dài hạn” của ông vẫn còn nguyên vẹn, não của ông vẫn còn những vùng chưa bị tàn phá, đúng theo lời bác sĩ nói “Người bị bệnh Alzheimer vẫn có một điều hạnh phúc, đó là được sống với những ký ức tuyệt vời”.


Có một ngày, bà mở ti-vi cho ông xem. Ông không còn nhận ra Glen Campbell trên màn ảnh. Vì trên đó là một Glen Campbell bảy mươi mấy tuổi, bằng với ông hiện tại. Ông chỉ nhớ một Glen thời trai trẻ. Ông thấy chán, ông lim dim mắt. Ông nghe tiếng đàn guitar của chính mình. Ông nghe tiếng hát của đồng đội vang trong cánh rừng âm u sau một trận thắng. Rồi như lật qua một trang khác, ông thấy gương mặt của anh con bác Châu từ từ nhòa nhạt. Anh đã ngã xuống. Ông nghe lại tiếng đạn chui vào da thịt, vào đến mạch máu trong cánh tay mình.


Bà đem đến cho ông một ly nước gì không biết. Ông mở mắt, đón cái ly, uống mà không hiểu đó là gì. Rồi ông lại nhắm mắt, tiếp tục phiêu du vào cõi xưa, nơi ông thức dậy trong một bệnh viện. Người lính trẻ sức sống còn tràn đầy. Cánh tay bị thương đã được băng bó. Một gương mặt cúi xuống. Một mái tóc dài được bới gọn sau chiếc mũ trắng. Ông đón ly nước từ đôi bàn tay của người con gái. Nước! Nước ngon quá! Ông nhìn người đối diện. Một đôi mắt đen nhánh đầy tình yêu đang nhìn ông.


Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh

vietbao.com

Tháng 10, 2011

 


 

 

 

Chương 1

 

alt

Phóng tác theo ‎ý phim truyền hình “Ghost story” của Hoa Kỳ

Trích trong Tạp chí Tuổi Hoa số 223, 224, 225, 226 - năm 1974

1

Giảng xong bài toán, cô giáo Hòa nhìn Trí, cười:
- Thế nào, còn thắc mắc gì nữa không?
- Thưa Cô không ạ. Con cám ơn Cô.
Trí về chỗ thu xếp sách vở vào cặp. Lớp học chỉ còn lại Trí và cô Hòa. Bạn bè đã về hết, chỉ có Trí là nán lại xin cô giảng nốt bài toán mà Trí gặp phải nhiều thắc mắc. Trí đến vòng tay thưa cô, và chạy nhanh ra ngoài. Cô Hòa nhìn theo, mỉm cười, thoáng một chút hài lòng.

Cô cũng sửa soạn để ra về. Nhưng cô còn muốn đứng lại thật lâu, trên bục gỗ, để nhìn xuống những dãy ghế bàn yên lặng. Trước đây năm phút, như mọi ngày, bầy trò nhỏ ngồi đầy cả lớp, líu lo như bầy chim. Chúng nó đọc, viết, và ca hát. Mỗi ngày hoạt cảnh ấy đều diễn ra, nhưng không làm cô chán. Trái lại, cô càng yêu mến hơn. Nhất là, trong lớp có cậu bé Trí thật nổi bật nhờ trí thông minh, sự lanh lẹ và tính tình hiền lành. Cô Hòa cảm thấy có lẽ cô thương Trí hơn hẳn mọi đứa học trò khác. Cô có hơi thiên vị chăng? Không tránh được. Bởi cô nhiều tình cảm. Không có một việc gì không làm cô suy nghĩ. Ngày xưa cô hằng ao ước có một đứa con như vậy. Cô tưởng tượng trong đầu, một đứa con trai, nhanh nhẹn, thông minh nhưng phải cộng thêm sự hiền lành. Trí giống hệt đứa con trai tưởng tượng ấy. Cô thương nó nhất là vì vậy, vì đứa con trai tưởng tượng kia không bao giờ chào đời, vì chồng của cô đã chết giữa lúc cô đang ở trong những ngày hạnh phúc nhất.

Cô Hòa khe khẽ thở dài. Chuyện đã qua như một giấc chiêm bao. Cuộc sống bây giờ đơn độc và phẳng lặng. Nguồn vui duy nhất của cô là bầy trò nhỏ của trường này. Tự nhiên cô cầm lấy một mẩu phấn thừa, vẽ lên bảng một vòng thật tròn, rồi chấm một chấm lớn ngay tâm điểm. Cô mỉm cười một mình. Cô sẽ sống trong khuôn khổ của cô đến trọn đời – một nhà giáo. Sẽ sinh nghề, và sẽ tử nghiệp.

Cánh cửa lớp khép lại sau lưng cô Hòa. Cô ôm chồng vở của học trò đi về phía phòng ông Hiệu trưởng. Nghe chồng vở nặng và hương giấy học trò như có quyện mùi sữa. Cô thấy vui vui trong lòng và bước nhanh. Buổi trưa mùa thu, nắng không gắt, chỉ đủ làm trong trẻo bầu không khí mến yêu trong sân trường.

Một cô giáo đi lại, chào cô Hòa:
- Chào chị. Hôm nay chắc chị bận lắm?
- Vâng. Cô cứ nhìn chồng vở này thì biết.
Cô giáo nọ kêu lên:
- Chao ơi! Chị còn chấm bài ở nhà nữa, thì giờ đâu mà nghỉ?
Cô Hòa cười:
- Thế mới vui chứ cô! Tôi có cái thú xem vở học trò như… xem truyện.
- Em phục chị đấy! Nhưng chị nhớ nghỉ ngơi. Lúc này chị hơi ốm đấy nhé!
- Cám ơn cô. Cô lo cho tôi quá!
Hai người chào nhau đi. Những câu xã giao tuy không thân mật lắm nhưng cũng chứng tỏ được rằng những người đồng nghiệp thường để tâm đến cô Hòa và quý mến cô. Họ thường bày tỏ sự mến phục tính điềm đạm của cô và nếp sống đơn chiếc mực thước mà cô đã chấp nhận từ mấy mươi năm nay.

Cô Hòa bước xuống sân, đến bên xe của cô. Cô nhẹ nhàng đặt chồng vở lên nệm ghế sau, rồi ngồi vào chỗ lái. Tiếng máy nổ nghe cũ kỹ, như hình dáng chiếc xe của cô. Nó cũng ốm yếu, già nua và chung thủy như cô vậy. Cô lái xe chạy từ từ ra khỏi cổng trường, và gật đầu chào người gác-dan. Rồi lại nghĩ đến Trí, lại nghĩ đến đứa con trai tưởng tượng. Giờ này có lẽ Trí đang ở trên đường về nhà. Chốc lát nữa nó sẽ ngồi trước bàn ăn với ba má. Cảnh đầm ấm biết là bao!

Nhưng cô giáo Hòa không ngờ, rằng chính lúc đó, cậu bé Trí đang băng nhanh qua đường, sơ ý không nhìn thấy một chiếc xe hơi đang chạy trờ tới. Chiếc xe đang ngon trớn phải thắng gấp vì một đứa bé. Tiếng rít của bánh xe siết xuống mặt đường nghe chát tai. Trí té xuống trước mũi xe. Trí nghe như dưới chân có một cảm giác đau nhức thấu tận óc. Rồi thì toàn thân tê dần. Trí chìm vào hôn mê.

alt

 

Chương 1, Chương 2, Chương 3, Chương 4, Chương 5, Chương 6, Chương 7, Chương 8, Chương 9, Chương 10, Chương 11 (hết)