Những bài mới nhất

 

alt
 
Hình: Tim Tím (nguồn: Tống Phước Hiệp)
 
 
Hắn lên xe đò đi về Nam Cali. Chẳng qua là mấy hôm trước hắn đi theo người cậu thăm bà con trên Bắc rồi về lại Nam. Một chuyến đi và về không có gì đặc biệt. Nhưng rồi… hắn gặp lại “cô bé ngày xưa” của hắn. Cô bé viết truyện hoa tím!

Nếu thuật lại một câu chuyện theo kiểu “nói thẳng nói thật” như vậy thì quá dễ dàng. Ồ, quá dễ! Cuộc đời có nhiều thứ xảy ra thật dễ dàng mà hắn không ngờ.

Hồi còn bé tí xíu, mỗi khi hắn ao ước một điều gì, hắn thường nghĩ đến bà tiên hay ông bụt. Họ là những người có chút quyền phép cao siêu, dĩ nhiên là cao hơn ông bà hay cha mẹ một chút. Ông bà cha mẹ thì thường đáp ứng những nhu cầu của ta nhưng họ không có phép. Nhiều khi ta cũng thấy họ cầu nguyện, van vái. Và hắn cũng thế thôi. Cần ăn cần mặc thì nhờ cha mẹ. Nhưng khi có những nỗi ao ước hơi xa vời một chút hiện ra trong đầu thì hắn sẽ thu người lại và nghĩ đến một đấng thiêng liêng.

Nhưng bây giờ, khi hắn không cần cầu nguyện gì cả, điều mà hắn mơ tưởng ngày xưa đã hiện ra rồi kìa!

Ông cậu giới thiệu:
- Đây là em của chị dâu cháu! Cháu chưa gặp bao giờ phải không?
- Dạ chưa.
Và hắn nhìn người đối diện, chào:
- “Hi!”
Hắn nói “Hi!” rất đơn giản như bao người.  Hai vợ chồng người anh họ thì hắn đã quen biết từ lâu. Hơn thế nữa, anh lại là người học cùng một trường dòng với hắn lúc “xửa xừa xưa” ở Đà Lạt. Chị thì qua đây hắn mới biết. Chẳng cần rào đón chi thì nói ra ai cũng hiểu là chuyện xa xưa, chứ bây giờ thì hắn cũng đã có vợ con như người anh họ này rồi. Họ đã “ra đời”!

Hắn định ngồi xuống ghế, cạnh bên cậu. Nhưng chợt hắn liếc nhìn người em của chị dâu một chút. Hắn bỗng giật mình. Ủa!.. Sao cái nét này… hắn như đã nhìn thấy ở đâu. Hắn tự giải thích: Thì mình đã quen biết người chị, tất thấy cô em quen là phải. Nhưng hắn chưa kịp nghỉ ngơi để chờ giờ xe chạy thì cậu lại tiếp:
- Cô em đây đi xuống Nam để lãnh giải thưởng đấy!
Cậu thì lúc nào cũng giao thiệp rộng rãi như thế, cái gì cũng nói dù chẳng liên can! Hắn “dạ” rất lịch sự và bình thản nếu không muốn nói là hơi thờ ơ. Hắn đưa tay nhìn đồng hồ, cái đồng hồ rất trung thành của hắn ở cái thời buổi người ta chỉ thích coi giờ trong cell phone. Còn năm phút nữa. Hắn ngồi yên, lấy cuốn sách ra đọc. Eo ơi, hắn đã quen với những chuyến xe đò thế này, chốc nữa đây sẽ vang lên nhạc, kịch, hát hò cho mà coi! Phải tận dụng thời gian hiếm hoi còn yên tĩnh này mà đọc sách cái đã. Mặc kệ ai lên lên xuống xuống, tạm biệt, vẫy tay, dặn dò…

Cũng không khác một chiếc xe đò ngày xưa bao nhiêu. Chỉ có một cái khác biệt là không có những người bán hàng rong đứng dưới đường ngước nhìn lên các cửa sổ xe để mời khách mua hàng. Lại càng không có những người leo lên tận trong xe để rao mời “Mía ghim đây!”, hay “Trà đá đây!”, hoặc có khi là những quyển sách đủ loại từ tiểu thuyết cho đến sách tử vi bói toán…

Ồn quá! Xe sắp chạy rồi! Hắn theo phản xạ như bao lần, nhìn ra sau lưng mình xem có ai. Cô em của người chị dâu ngồi ngay sau lưng hắn. Hắn lại hơi ngạc nhiên… Sao cái nét này quen quá nhỉ! Hắn giữ cái đầu ngoái lại phía sau, và tìm ra một câu mở đầu câu chuyện:
- Nghe nói… chị xuống Nam để lãnh giải thưởng… giải thưởng gì vậy?
- Dạ, một giải của VB ạ!
- Ô! VB! Vậy chị lấy bút hiệu là chi?
- Tim Tím ạ.
- Hả?
- Dạ, Tim Tím ạ!
Hắn trợn tròn mắt. Hắn đã hiểu tại sao gương mặt kia có một cái gì quen thuộc. Chính là cái nét chung, rất chung trong những bìa vẽ của họa sĩ Vi Vi. Ôi! Chính là Tim Tím, người viết truyện hoa tím đây mà!
- Con nghe có quen không?
Giọng của cậu vang bên tai làm hắn bừng tỉnh. Hắn đáp nhanh:
- Dạ, quen! quen chứ cậu! Hồi nhỏ con rất là mê…
Hắn im bặt. Hắn thấy mình thật thất thố.

Những câu trao đổi diễn ra rất bình thường và tự nhiên. Hỏi thăm về gia đình, nghề nghiệp. Chỉ có một việc không được tự nhiên là hắn cứ phải giữ cái đầu ngoái lại phía sau. Mà cũng vì vậy cho nên hắn chỉ thấy được phân nửa gương mặt của người đang nói chuyện với hắn. Thốt nhiên hắn có cảm giác Tim Tím hiện ra ở đây mà như là Tim Tím viết truyện hoa tím thuở xưa.

Thuở xưa của hắn, của cậu học sinh trung học trường dòng, rất khác với các cậu học sinh “trường ngoài đời”, bởi vì các cậu luôn đạo mạo, đứng đắn, nghiêm trang… nói chung là tất cả những gì tốt lành nhất … đều phải có. Các cậu học nội trú trong trường, ngoài học phổ thông còn phải học giáo lý, tu tĩnh theo một nề nếp nghiêm khắc. Phần giải trí cũng phải theo một chương trình đặc biệt. Sách vở báo chí đều phải qua sự kiểm duyệt và cho phép của các sư huynh. Ấy vậy mà không hiểu sao, loại truyện Tuổi Hoa “hoa tím” lại lọt vào khung cửa nghiêm trang của nhà trường các cậu. Loại sách truyện này không hiểu vì sao lại không được các sư huynh cho đọc. Bỗng nhiên trong một thoáng bị thôi miên bởi kỷ niệm, hắn bắt đầu huyên thuyên về một khung cảnh của ngày xưa.

- Hồi đó, mình học lớp Mười, đã rất mê đọc truyện của “ấy”.
Hắn ngưng bặt. Không nghe Tim Tím nói gì. Chắc là Tim Tím cũng như hắn, hơi ngạc nhiên khi nghe tiếng “ấy”. Ai không phải là học trò thời của hắn sẽ không hiểu chữ “ấy” nghĩa là chi đâu! Bạn thân thì hay xưng hô “mày, tao”, “mi, tau”, “cậu, tớ” hoặc “ông hay bà, và tui”. Nhưng bạn không thân hoặc mới gặp lần đầu thì xưng hô “bạn, tôi”, hoặc “trò, tôi”, hoặc gọi “ấy”, xưng “tôi”. “Ấy” chỉ để dành cho học trò nhỏ dùng, nghĩa là dành cho con nít. Già đầu như hắn bây giờ mà gọi người kia bằng “ấy” không ngạc nhiên sao được? Nhưng sau cái tích-tắc khựng lại đó, hắn nghĩ thôi cứ mặc kệ, hắn thích dùng chữ “ấy”, như ngày xưa hắn từng ao ước được gặp Tim Tím, nói chuyện với cô bằng cách xưng hô “mình, ấy”.

Tim Tím như cũng đồng cảm với ý nghĩ của hắn, nên tiếp lời:
- Vậy sao? Bạn thích hả?
- Thích lắm, nếu không muốn nói là mê, mê truyện của “ấy” viết đó! Sao “ấy” lại viết lôi cuốn như vậy nhỉ!
- Cám ơn. (Hắn nghe tiếng của cô bạn cười rất nhẹ).
- Mình … mình học trong trường dòng, “ấy” ạ!
- Thế sao?
- Mình ở nội trú. Mà … trong đó, ngộ lắm “ấy” à, các sư huynh cấm không cho xem truyện “hoa tím”.
- Ồ, vậy sao?
- Các loại truyện thiếu nhi và các loại người lớn thì lại được, nhưng đặc biệt truyện “hoa tím” thì không.
- Sao vậy?
- Vì các sư huynh thấy giới thiệu là “loại tình cảm nhẹ nhàng dành cho tuổi mới lớn”, sợ tụi này nhiễm cái gì không hay thì bỏ bê việc học hành.
- Tình cảm nhẹ nhàng có gì là không hay?
- “Ấy”… không hiểu đâu!
- Không hiểu thật đấy!
Hắn có cảm giác ân hận vì đã nói những điều vừa rồi. Thôi thì cứ cầu mong là Tim Tím nghĩ rằng trường nhà dòng “hơi khó hơn trường ngoài đời một chút” đi vậy! Đâu phải lỗi của mình!

Hình như là Tim Tím đang buồn nên hắn không nghe cô tiếp lời. Hắn ái ngại, cố ngoái đầu thêm một chút nữa, rồi một chút nữa để nhìn cho rõ mặt người bạn mới quen này. Tim Tím đang nhìn ra cửa sổ. Hắn nhìn theo. Một vùng hoa tím ngắt ở ngoài kia. Hắn thốt lên:
- Xinh quá!
- Phải, xinh quá!, Tim Tím nói theo.
Hắn lại có thể nói chuyện nữa rồi!
- Tim Tím biết không, tụi mình cũng “mánh” lắm, khi nào về thăm nhà thì lại ra tiệm sách “rinh” mấy cuốn truyện “hoa tím” về, chuyền nhau đọc. Đọc lén đó!
- Không sợ các sư huynh phạt sao?
- Không, vì mình … trùm mền lại, bật đèn pin nhỏ lên đọc.
- Eo ơi! Thiệt không?
- Thiệt chứ! Mình đọc hết tất cả các truyện của “ấy” viết. Mình ao ước có ngày được gặp “ấy”, làm quen với “ấy”, chỉ thế thôi, nhưng mình không có cơ hội.
- Vậy đã có bao giờ bạn bị sư huynh bắt gặp đọc truyện của mình, rồi bị phạt không?
- Có! Có một lần, mình bị bắt gặp.
- Thế… bị phạt ra sao?
Hắn đoán là Tim Tím đang rùng mình vì trí tưởng tượng phong phú chắc sẽ dẫn tác giả tới một cảnh ghê rợn trong đó cậu học trò cả gan này được ăn mấy chục cái thước kẻ vào bàn tay cho đến tóe máu. Hắn lắc đầu:
- Không, không có bị phạt.
- Sao được?
- Vì, “ấy” biết không, sư huynh bắt mình lên văn phòng, bảo mình ngồi một góc, để ông đọc cuốn truyện của “ấy” đã. Ý là sư huynh sẽ tìm những điểm để buộc tội mình cho chắc chắn. Mình ngồi yên. Ông đọc trang đầu, rồi trang kế, rồi…
- Rồi sao?
- Hóa ra là ông chưa bao giờ đọc truyện “hoa tím” cả, “ấy” ạ!
- Chưa đọc sao lại cấm?
- Thì mình đã nói rồi, họ chỉ nghe nói “tình cảm tuổi mới lớn” nên sợ tụi mình bị hư.
- À ra thế! Thế rồi sao?
- Thế rồi mình ngồi chờ ông đọc cuốn truyện đến… ngủ gục luôn. Khi mình mở mắt ra vẫn thấy ông say sưa đọc. Ông đọc xong, gấp sách lại, không nói gì. Một lát sau ông bảo mình đi về phòng ngủ đi. Hôm sau, giờ tan học, mình đi ngang văn phòng, thấy một thông cáo ghi “Loại sách Tuổi Hoa “hoa tím” không bị cấm, miễn là đọc ngoài giờ học”.
- Thế sao?, Tim Tím reo lên.
- Phải, “ấy” à, bởi vì họ cấm khi họ chưa đọc. Khi họ đã đọc những cuốn “hoa tím” rồi thì họ không muốn cấm nữa. Vì họ thấy những ý hướng xây dựng học đường, xã hội; có tình yêu gia đình, tình yêu đất nước đậm đà trong đó, chứ đâu có phải chỉ là tình cảm bâng quơ, hay “làm hư” học trò. Mình mừng lắm!
- Mình cũng mừng lắm! Đến nay mới nghe được câu chuyện này.
- Tim Tím à! Hơi muộn một chút, nhưng mình rất muốn nói cám ơn “ấy”. Cám ơn “ấy” đã viết những truyện “hoa tím”. Chúng tạo nên tuổi trẻ cho mình và các bạn mình, khó quên lắm. Nhưng, “ấy” ơi, “ấy” có biết là… ngay sau khi bản thông cáo đó dán lên, tụi mình chưa kịp vui mừng, thì nó đã bị gỡ xuống, và thay vào đó là một lệnh cấm mới. Truyện của “ấy” tiếp tục bị cấm!!!
- Thế ư? Vì sao?
- Nhưng không phải là lệnh cấm của nhà trường, mà là lệnh cấm của “nhà nước mới”, của bộ Văn hóa Thông tin, tên các truyện của “ấy” được xếp vào danh sách… các sách bị cấm.
- Mình hiểu rồi! Đó là lúc “đổi đời”. Bạn đã nói đúng. Những cuốn sách của Tim Tím nằm trong danh sách dài dằng dặc những truyện họ gọi là “văn hóa phẩm phản động, đồi trụy”...
- Xin lỗi Tim Tím…
- Bạn đâu có lỗi gì!
- Lỗi mình đã kể lể.
- Không, hãy quên đi. Bạn nhìn kìa! Hoa tím vẫn đẹp đó!
Hắn nhìn theo Tim Tím. Vẫn là một dải màu tím nhẹ vun vút trước mắt. Xe đang chạy với tốc độ tối đa cho phép trên xa lộ. Hắn có cảm giác những ngày êm đềm của hắn cũng đang chạy về vùn vụt. Cậu học trò trường nhà dòng, sau “ngày đổi đời” không còn ở trong trường dòng nữa. Ba hắn đi vào tù. Mẹ và anh em hắn muốn yên thân nên ở lại Sài Gòn. Hắn không về lại trường nhà dòng, không về lại Đà Lạt. Có lần hắn gặp lại người anh họ, biết được rằng anh cũng không còn học trường nhà dòng nữa. Họ đã “ra đời”. Hắn không có cơ hội khoác áo làm Cha, nhưng hắn trân quý lắm cái thời học trường nội trú, với tình cảm trong sáng của một cậu học trò tuổi mới lớn đêm đêm trùm mền xem lén truyện “hoa tím”.

Hắn không biết mình đã im lặng bao lâu, nhưng có thể tính được dựa vào thời lượng của một vở kịch hài trên màn hình trong xe, vở kịch mà khi hắn và Tim Tím nói chuyện hắn đã không hề biết đến. Hắn trở về thực tại khi thấy màn hình tắt tối đen sau vở kịch. Xe đã vào khu chợ ABC. Mọi người đứng dậy, rục rịch chờ lấy hành lý. Hắn giật mình, hỏi nhanh:
- Thế… chiều nay “ấy” đi lãnh thưởng của VB phải không?
- Phải. Bạn có đến không?
- Mình sẽ đến chứ! Nếu họ bảo mua vé mình cũng sẽ mua vé.
- Vậy cám ơn bạn. Mình hẹn gặp bạn nhé! À!... bạn ơi!
- ???
- Bạn đừng ái ngại cho Tim Tím nhé! Tất cả đã qua rồi! Mấy mươi năm cũng đã qua rồi! Bạn thấy đó, Tim Tím không có gì thiệt thòi cả.
- Phải. Mình vui lắm, “ấy” ạ!
Hắn nhìn một lần nữa, Tim Tím. Vẫn là Tim Tím như trong những giấc mơ của hắn ngày xưa.

Hắn hân hoan thả bộ trên lề đường trong khu chợ, dừng lại trước một tiệm hoa. Hắn chợt thấy cuộc đời thật mầu nhiệm. Ngày xưa ấy, khi hắn còn là cậu học trò lớp Mười, ngoài giờ học thường lẩn tránh cái nhìn “quan tâm” của các sư huynh, ăn cơm thì mơ màng nghĩ đến truyện hoa tím, đêm đến thì trùm chăn đọc truyện hoa tím, ngủ cũng mơ thấy Tim Tím, mà Tim Tím thì đã là một sinh viên, ngoài giờ học cô lặng lẽ đi vào quân y viện băng bó vết thương cho những người lính, đàn hát bên giường bệnh, và cô đã viết nên những tác phẩm trong thời chiến.

Hắn nghe mắt mình cay xè. Nhưng hắn lại mỉm cười được ngay. Bao nhiêu năm qua hắn đã học hiểu được những cái mầu nhiệm trong cuộc đời. Hắn trông khá già cỗi nhưng tâm hồn của hắn vẫn có một cái gì đó rất trung thành. Hắn có vẻ hơi “cõi trên” một chút.

Hắn chọn những bông hoa tím, nhờ cô bán hàng bó lại thành một bó, thắt một dây nơ màu tím. Hắn nghiêng đầu ngắm món quà mà mình sẽ trao tặng cho người bạn mới nhưng “rất xưa” của hắn.

Vâng, chiều nay hắn sẽ trịnh trọng tặng cho Tim Tím bó hoa tím này ngay sau khi cô lên nhận giải thưởng của VB.
 
Tháng 8/2011

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
 
Thư Quán Bản Thảo số 48, tháng 9 năm 2011
 
https://vietbao.com/a177137/co-be-viet-truyen-hoa-tim
 
 
 
 
 

alt

 

 

Hai người bạn gặp nhau lần đầu tại phi trường Hongkong. Xuân đi từ Sài Gòn. Thu đến từ Hà Nội. Việc nhận diện nhau cũng thật dễ dàng vì họ đã làm quen và dặn dò nhiều lần qua điện thoại về lộ trình và giờ giấc của các chuyến bay. Xuân lớn hơn Thu một vài tuổi. Hai người cùng ngạc nhiên khi thấy người kia có nét hao hao giống mình. Những e ngại hầu như đã biến đâu gần hết. Từ đó cho đến khi vượt đoạn đường bay mười mấy giờ đồng hồ đến San Francisco, họ đã trở nên đôi bạn. Thêm một đêm bay nữa, họ đến Atlanta, Georgia.

Hai người không có thời gian nghỉ. Sáng hôm mới đến, lo xong chỗ ở là họ phải đến CDC (Centers for Disease Control and Prevention) trình diện ngay. Rồi thì bắt tay vào việc: học hành và làm việc trong phòng thí nghiệm. Tuy vậy, không phải mới đến trung tâm là đã thành “cư dân” của trung tâm ngay đâu! Mỗi người được phát một thẻ “visitor” (khách) để tạm thời được ra vào trung tâm. Họ được hẹn ngày hôm sau đi làm “fingerprint” (lấy dấu tay) ở một địa điểm khác, rồi sau đó sẽ được chụp ảnh để làm một cái badge (phù hiệu) đeo trên áo, từ đó mới được coi như “nhân viên tạm” trong thời gian đi tu nghiệp, và thế có nghĩa là được quyền mang một thẻ “khóa magnetic” (khóa từ tính) để ra vào các cửa, đến phòng thí nghiệm; và rồi cũng như những nhân viên thực thụ của trung tâm, họ được ăn uống ở cafeteria, được tham dự các buổi báo cáo khoa học…

Đối với Xuân, tuy chưa sống ở Hoa Kỳ nhưng Xuân đã tìm hiểu nhiều về xứ sở này qua người chị ruột đã sống ở California từ hơn hai mươi năm nay. Còn với Thu, tất cả đều mới lạ và đáng ngạc nhiên. Tiếng Anh của Thu không mấy lưu loát. Thu bảo Thu phải nhờ Xuân giúp nhiều. Không sao đâu! Xuân đã quen làm việc với các chuyên gia ngoại quốc. Xuân đã từng làm thông dịch viên cho các chương trình y tế. Xuân sẵn sàng giúp cô bạn mới từ nay sẽ sống với mình. Và như thế, mặc nhiên, họ đã coi nhau như hai người bạn, hai chị em.

Ngày đi làm fingerprint, hai chị em được đưa đến một tòa nhà nằm trên một ngọn đồi. Nhiều người đã có mặt ở đó. Chờ đợi rồi cũng đến lượt mình. Xuân và Thu đã làm xong. Nhưng người tài xế lo việc đưa đón hai người bị một tai nạn nhỏ, không đến đón được. Thế nên Xuân và Thu phải đi lang thang trong sân, hết nhìn người đến kẻ đi rồi lại ngắm hoa cỏ. Ồ phải chi mình rành đường một chút thì chắc sẽ đi đón xe bus mà về. Hai chị em lại an ủi nhau “Không sao đâu!”, rồi lại đi dạo chơi, chờ đợi.

Tòa nhà nằm trong một khuôn viên thơ mộng. Một nơi có thật nhiều hoa. Từ lúc đặt chân đến Hoa Kỳ tới nay, qua ngày thứ nhì, hai bạn mới có dịp ngắm một quang cảnh mới mẻ. Không khí trong lành và những bông hoa thắm tươi gợi Xuân nhớ nhiều đến Đà Lạt. Trên đỉnh đồi này nhìn xuống, thấy những con đường xinh xắn uốn lượn. Atlanta thật đẹp!!! Nhưng đó chỉ mới là vùng đồi núi vắng vẻ mà thôi, hai bạn vẫn chưa biết phố xá là như thế nào, chỉ nhớ lúc ở phi trường về có đi ngang qua khu downtown, hai bạn được nhìn lướt qua những ngôi nhà cao trang trọng còn im ngủ trong sương sớm…

Đến một lúc cảm thấy đói, không còn muốn đi dạo nữa, hai bạn bắt đầu nghĩ tới việc tìm nơi mua thức ăn. Nhưng thật lạ, nhìn quanh không có một tiệm ăn nào, cũng không có một cái máy bán bánh kẹo tự động nào. Hai bạn bảo nhau:
- Giá mà có được một tiếng rao hàng nhỉ!
- Đúng rồi! Phải chi có một gánh hàng rong…
Nói như thế rồi cùng nhìn nhau cười thú vị.

Và rồi đến một lúc không thể cười được nữa, hai bạn cùng ngồi xuống ghế. Xuân nhìn Thu, thấy nét mặt bạn không còn vẻ hồng hào như sáng nay. Và chợt Xuân nghe tay chân mình bủn rủn. Ôi, đói quá! Mỗi đứa một ly sữa lúc sáng sớm, giờ đây nghe bụng trống rỗng. Mình lại vô ý không mang theo chút bánh kẹo gì để dằn bụng, cứ tưởng đi một chút rồi về ăn trưa, hoặc ít ra có đói cũng tìm được một nơi mua thức ăn. Ở đây là cơ sở thuộc cảnh sát, mình đâu có thể vào sâu bên trong tòa nhà. Xung quanh cũng không có một ngôi nhà nào khác nữa. Không chợ búa, không tiệm tùng. Hai bạn thất vọng, cùng cầu mong có ai thay cho người tài xế để đến đón họ về. Nhưng hoàn toàn im lặng. Không có chiếc xe nào mang dấu hiệu của CDC xuất hiện như họ mong.

Xuân đề nghị:

- Thôi mình nói chuyện vậy. Đi không nổi vì sẽ hao năng lượng. Nhưng ngồi mong ngóng thì mệt mỏi lắm!
Thu cười nhẹ:
- Phải chị ạ! Nói chuyện cho quên đói.
- Hồi còn bé, mỗi khi đói mà chưa được ăn… thì chị hát.
- Ô, vậy à? Em thì ít khi chịu nhịn đói. Nhưng em nghe bố em kể về nạn đói năm 1945.
- Chị cũng nghe ba má chị kể lại. Đó là trận đói khủng khiếp nhất của nước mình. Lúc ấy chị và em đều chưa ra đời.
Thu đưa tay vuốt nhẹ một bông hoa, giọng lâng lâng:
- Nghĩ cũng lạ chị nhỉ! Hai chị em mình có duyên với nhau thật, học khác ngành mà rồi làm cùng một lãnh vực, được đi tu nghiệp cùng một nơi. Ở hai miền xa lắc mà bỗng thấy gần như hai chị em một nhà.
- Vâng, thì bây giờ mình đã ở cùng một phòng, ăn cùng một mâm nữa. Thu hãy nói cho chị biết vì sao em được chọn qua đây học.
- Em ấy à? Em được cho đi tu nghiệp ở đây là vì bố em làm chức lớn trong ngành, việc đề nghị cho em đi rất dễ dàng. Còn chị?
- Chị ư? …Chị không có “thân thế” gì cả. Chị được cho đi là vì… chị qua được những vòng tuyển chọn, có chấm điểm, có bằng chứng hẳn hòi.
- Vậy là chị may đấy! Có nhiều người làm giấy tờ xong vẫn hụt đi.
- …Thì chị đã từng….

Xuân ngưng lại, không muốn nói tiếp. Xuân đã toan nói “Chị là con của sãi ở chùa…” nhưng thấy không nên, vì Xuân nhận thấy nét mặt của Thu thật dễ mến. Thu chắc cũng đã biết nhiều những mẩu chuyện như vậy, mình kể thêm một chuyện nữa mà làm gì! Kinh nghiệm về những lần bị dìm hồ sơ, bị cướp học bổng đi tu nghiệp, đi học, vẫn còn rõ ràng với Xuân lắm. Đơn giản chỉ vì Xuân là người sống trong miền nam, không có “thân thế”. Xuân tự hỏi không biết rồi với cái bề ngoài dễ mến của Thu và tính nhẫn nhịn của Xuân, hai người bạn này có thể sống hòa đồng được với nhau trong một thời gian khá dài hay không? Hai hoàn cảnh thật khác biệt, cả về nguồn gốc gia đình lẫn bối cảnh xã hội. Xuân chợt thở dài. Xuân cũng không ngờ mình đang ngồi ở đây, và rồi sẽ được học hành, làm việc ở xứ Mỹ trong một thời gian. Xứ Mỹ, quê hương thứ hai của gia đình người chị ruột, những người đã đến bến bờ này bằng mồ hôi và nước mắt, trên con thuyền tả tơi dập vùi trong sóng gió. Hai mươi năm sau, em của chị đi sang xứ Mỹ bằng máy bay. Tất cả đã thật khác. Chỉ có một điều không khác: đó là hoàn cảnh của đất nước vẫn không thay đổi bao nhiêu.

Không biết lặng yên bao lâu, rồi cả Xuân và Thu cùng ôm bụng. Cái đói lại đến! Xuân chợt nhớ thật rõ một bài văn được học hồi trung học, bài “Đói” của Thạch Lam. Thuở nhỏ Xuân không mường tượng ra cái đói là ghê gớm thế nào mà nhà văn Thạch Lam mô tả hay đến thế. Một bài văn ngắn đã đi vào chương trình giáo khoa. Có đoạn Xuân đọc gần như thuộc nằm lòng: “Sinh rùng mình khi nghĩ đến trước cái mãnh liệt của sự đói, chàng cảm thấy sự cần dùng của thân thể trấn áp đuợc hết cả những lệ luật của tinh thần… Mùi xào nấu đồ ăn ở dưới sân nhà đưa lên làm cho chàng khó chịu vô cùng. Sinh cúi đầu trên bao lơn nhìn xuống xem họ làm bữa cơm chiều. Các thức ăn tuy tầm thường, nhưng Sinh lấy làm lạ rằng chàng chưa bao giờ thèm muốn những cái đó như chàng thèm muốn bây giờ”. Bây giờ thì có thể tưởng tượng được rồi đây! Không biết là do đói hay do ánh nắng chiều sắp tắt chiếu thẳng vào mặt làm cho mắt hai bạn như mờ đi. Ôi! Qua Mỹ, đi tu nghiệp, có xe đưa đón, mà lại nhịn đói như thế này! Chuyện này mà kể ra chắc không ai tin. Không hẹn mà cả hai lại cùng đứng lên. Nhưng Xuân cảm thấy không còn sức. Còn Thu kêu lên nho nhỏ:
- Ôi giời ơi!
Xuân đang ỉu xìu nhưng cũng bật cười khi nghe tiếng than đó. Vừa lúc ấy chiếc xe mang dấu hiệu CDC hiện ra. Xuân vỗ tay như trẻ con. Còn Thu reo lên thất thanh:
- Sống rồi!!!

**

Từ hôm sau đôi bạn luôn nhắc nhau đừng coi thường chuyện ăn uống. Mỗi sáng khi ăn điểm tâm Xuân đều bảo Thu:
- Ăn nhiều nhiều một chút, trưa nếu ráng làm việc mà không có thì giờ nghỉ để xuống cafeteria ăn, thì cũng không bị đói.
Còn Thu thì cẩn thận hơn, mỗi ngày đều tự tay gói ghém một ít bánh cookies, chips hay chocolate đem theo cho cả hai chị em. Nhìn những thức ăn đó, hai bạn nhớ đến buổi chiều khi đi làm fingerprint về đến nhà, người lả đi, hai bạn kịp thấy hai túi quà của người thư ký nhà trọ đưa cho hôm qua, chưa kịp mở. A, thì ra là “túi thức ăn cứu đói”! Nhà trọ đã dành cho mỗi người khách mới đến một túi như thế, bên trong có một phong bánh đậu phọng, một phong kẹo, một gói mì ăn liền, một gói trà, một gói cà phê và một gói đường. Hai bạn nhìn nhau rưng rưng nước mắt. Người ta thật chu đáo. Thế mà mình đã không biết đến điều này.

Gọi là nhà trọ cho gọn, thật ra nơi Xuân và Thu cư ngụ trong suốt nửa năm ở Atlanta là một tòa nhà gần giống như khách sạn, nhưng trả tiền ở từng tháng, mỗi người có phòng ngủ riêng, còn thì sử dụng nhà bếp và phòng ăn chung nên có được bầu không khí như ở gia đình.

Villa International, tên của nhà trọ là thế. Xuân và Thu hay gọi tắt tên nhà là “Villa”. Dần dần Xuân và Thu có dịp tìm hiểu thêm về Villa, mới biết đây là nhà trọ được lập ra do Hội Thánh Tin Lành để giúp đỡ những người đi học và tu nghiệp - không phân biệt chủng tộc, tôn giáo - có nơi ăn ở rẻ và thân mật…

Villa International là một khu nhà hai tầng nằm ngay dưới chân đường đồi, hơi khuất sau một ngõ quanh. Có một khu đậu xe rộng rãi, rồi đến một khoảng sân xinh xắn với những bàn ghế nho nhỏ để mọi người có thể ngồi nghỉ chân. “Đi về Villa”! Sống nửa năm ở đó, nghe cũng thân ái khi gọi như vậy, giống như “đi về nhà”. Sáng dậy sớm, chuẩn bị ăn nhẹ rồi đi bộ qua CDC chỉ mất 5 phút. Trưa ăn tại cafeteria của trung tâm. Chiều về Villa nấu nướng với nhau và ăn tối. Đêm thì xem TV chung dưới phòng sinh hoạt, hoặc chơi bi-da, hoặc đọc sách trong thư viện. Và cũng có một nhà nguyện nho nhỏ dành cho những ai muốn vào cầu nguyện.

Những cư dân của Villa đến từ khắp năm châu. Họ dễ hòa nhập với nhau trong bầu không khí thân thiện – một “home-away-from-home”. Ngày ngày họ tỏa ra hai nơi để học và làm việc: CDC và trường đại học Emory. Cả hai nơi này đều gần Villa nên tất cả cư dân đều không phải sắm xe hơi hay bận tâm về các lộ trình xe bus. Rồi thì băng qua một con đường nhỏ, lên dốc một ngọn đồi khác là họ có thể đến một siêu thị để mua sắm thức ăn về dự trữ và nấu ăn hàng ngày. Cuối tuần lại có những tình nguyện viên làm việc trong Hội Thánh đến để lái xe đưa họ đi phố mua sắm hoặc du ngoạn các danh lam thắng cảnh. Muốn đi đâu khác nữa thì mọi người đã có xe lửa, xe bus. Và những chuyến xe bus của vùng này, đến và đi rất đúng giờ, mà cũng thật đặc biệt: rất vắng khách, ngoại trừ lúc giờ tan sở thì có hơi đông một chút, còn thường thì chỉ có một hay hai người khách là cùng, nếu không muốn nói là nhiều lúc chỉ có người tài xế trên xe.

Những tháng ngày học hành và làm việc cũng khá bận rộn. Tuy vậy, Xuân và Thu cũng dành thời gian những dịp lễ để đi thăm bà con. Xuân có khá nhiều thân nhân ở rải rác khắp Hoa Kỳ, còn Thu chỉ có một người cô trước kia đi học ở Đông Đức rồi sau khi nước Đức thống nhất đã xin qua Mỹ ở lại. Xuân ít khi bàn đến chuyện thời sự với Thu. Xuân không muốn những điều tế nhị ấy làm ảnh hưởng đến hòa khí tốt đẹp giữa hai bạn. Những người có duyên với nhau mới gặp được nhau. Cùng làm việc trong khoa học, thế là đủ rồi! Xuân tự dặn mình như thế và cảm thấy tâm yên ổn. Hằng đêm, hai chị em cùng ôn bài, bàn luận về công việc làm trong ngày, và rảnh rang thì cùng chia xẻ những câu chuyện về gia đình, chồng con. Xuân có hai cô cậu nhóc đang học trung học, còn Thu mới có một con trai hai tuổi. Nói chuyện về con cái bao giờ cũng là những đề tài vui và chẳng có gì để né tránh cả.

Một buổi trưa, khi Xuân và Thu đang đứng trong hành lang trước thư viện, một người đến trước mặt hai bạn, nhìn đăm đăm một chút rồi bỏ đi. Xuân kịp nhận ra chị là một phụ nữ đứng tuổi người Việt Nam. Chị đẩy một chiếc xe trên có một cái thùng to và các dụng cụ quét dọn cùng các chai hóa chất tẩy rửa. Bóng chị khuất sau khúc quanh dẫn đến khu nhà vệ sinh. Xuân và Thu hơi băn khoăn nhìn theo. Thu thắc mắc hỏi:
- Nơi đây có nhân viên người Việt sao chị? Em tưởng chỉ có người đi học như chị và em….
Thu bỏ lửng câu nói. Xuân im lặng. Chính Xuân cũng tự hỏi không biết người công nhân vệ sinh ấy là ai, gia cảnh thế nào. Trong đầu của Xuân vẽ ra nhiều giả thuyết.

Bẵng đi vài tuần lễ, có một em trai nét mặt sáng sủa đến tìm hai bạn trong phòng thí nghiệm, ngỏ lời thay cha mẹ em mời hai bạn cuối tuần đến nhà em dùng cơm. Em cũng là người Việt, đang thực tập trong CDC, chuẩn bị tốt nghiệp đại học y khoa. Tuy có hơi ngần ngại nhưng Xuân nhận lời, Thu thấy thế cũng đồng ý theo.

Ngày gặp gỡ tại nhà của em sinh viên cũng là ngày hai bạn được biết mẹ của em chính là người phụ nữ trong hành lang hôm nọ. Những lạ lùng bỡ ngỡ nhanh chóng qua đi. Xuân và Thu được tiếp đãi với một bữa cơm Việt Nam thật ngon lành và… khá thịnh soạn. Trong ngôi nhà gọn gàng và đầm ấm, cha mẹ của em sinh viên không e ngại khi tâm tình cùng hai bạn.
- Chúng tôi là gia đình cựu quân nhân. Hai cô thấy đó, chúng tôi rất khó khăn trong hoàn cảnh mới. Nhưng chúng tôi không ngại. Ông xã tôi bao năm tháng ở trong “tù cải tạo”, tự học nghề mộc, nay xin làm công nhân trong một xưởng đóng bàn ghế. Tôi không có vốn liếng Anh văn, nên chấp nhận làm “nghề janitor”. Làm gì cũng được phải không các cô?- miễn được sống lương thiện và có tiền. Chúng tôi vất vả kiếm tiền nuôi các cháu học lên tới đại học và dành dụm mua nhà, mua xe. Đâu có gì phải xấu hổ, phải không các cô?
Xuân không nói gì, chỉ gật đầu cảm động. Nhưng Thu đang thấm nước mắt và nói hơi nghẹn ngào:
- Em cảm phục anh chị lắm. Đồng tiền anh chị làm ra, thật quý báu. Bởi vì… nó thật sạch sẽ.

**

Thu theo Xuân đi đến thăm nhà những người thân của Xuân thường hơn. Hai bạn siêng ra phố, vào ăn tiệm Việt Nam và đem những tờ báo về đọc. Thu càng ngày càng tỏ ra đăm chiêu, trầm mặc.

Nhiều khi hai bạn nhắc lại cái ngày bị nhịn đói và cười ngặt nghẽo. Có hôm đứng lại trước một shelter (nhà tế bần), Xuân chỉ vào những người đang sắp hàng nhận thức ăn và bảo bạn:
- Thật ra bảo là qua Mỹ nhịn đói cho nó lâm ly ai oán, chứ ở Mỹ không lo đói, phải không Thu? Tụi mình đói có một bữa, đâu thấm gì so với cái đói của dân mình, cái đói của những người trong “tù cải tạo”, cái đói của những em bé thất học lang thang ở đầu đường xó chợ, trên những bãi rác; cái đói triền miên của những người dân, đói không chỉ miếng ăn, mà còn đói nhiều thứ khác, đói công bằng, đói tự do, đói sự thật….
Xuân nghẹn lời. Xuân không muốn nói thêm nữa…

Thời gian thấm thoát qua nhanh. Hai bạn trở về Việt Nam. Những quyến luyến với các thành viên của Villa – từ nhân viên cho đến người trọ học – thật sâu sắc làm Xuân và Thu thấy rất bùi ngùi. Xuân cũng bịn rịn chia tay với gia đình người chị ruột qua cuộc thăm ngắn tại California. Rồi từ đó, Xuân và Thu, hai người bạn, hai chị em khác họ, cũng nói lời tạm biệt để sau đó kẻ nam, người bắc.

Xuân đã có một quyết định. Nhìn tận mắt đất nước và con người tự do ở Hoa Kỳ, Xuân đã nhờ chị xúc tiến giấy tờ bảo lãnh đang chờ đợi. Xuân hiểu rằng ra đi đồng nghĩa với việc bỏ tất cả để làm lại từ số không. Cũng như những người bất chấp nguy hiểm đi trên sóng gió ngày trước vậy. Cũng như cha mẹ của em sinh viên kia vậy. Vợ chồng Xuân cũng sẽ như thế. Nhưng các con của Xuân sẽ có cả một chân trời của cơ hội.

Hơn năm năm sau, vào cái ngày gia đình Xuân sắp rời Việt Nam, Xuân gọi điện thoại ra Hà Nội thăm Thu và vắn tắt báo tin. Đầu giây bên kia, giọng của Thu ướt sũng như chìm trong nước mắt:
- Em chúc mừng chị, chúc mừng gia đình chị. Chị biết không, từ ngày đi tu nghiệp về, em đã có một cái nhìn khác đối với cuộc đời mà em vẫn sống. Ở đây, em sống trong một tầng lớp đầy danh vọng, có chức có quyền, no đủ đến thừa mứa. Nhưng em ao ước mình cũng được ra đi như chị, để cho con của em được sống trong một xã hội tốt đẹp hơn cái xã hội gian dối này. Chị ơi! Nếu được ban cho một điều ước, em xin ước rằng: “Em ước được là một “người làm nghề janitor” như người phụ nữ mình gặp trong CDC, chỉ để cho con em được giống như con của chị ấy, chỉ thế mà thôi!..”

 

Tháng 7, 2009

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

 

 

 

 

Nguồn hình: internet

 

 

 

 

Tôi đọc một mẩu tin.

Họ là đôi song sinh duy nhất của NASA sắp tham gia vào một dự án nghiên cứu về ảnh hưởng trên gene trong những chuyến phi hành dài ngày. Nói một cách dí dỏm là họ sẽ trở thành hai chú chuột lang (guinea pigs) trong thí nghiệm này.

Phi hành gia Mark Kelly, người chỉ huy trong bốn phi vụ của phi thuyền con thoi, kể cả chuyến bay cuối cùng của phi thuyền Endeavour, sẽ đóng vai đối chứng ở trên mặt đất, trong khi người anh em song sinh của ông thì ở trên quỹ đạo, đóng vai đối tượng thí nghiệm.

Mọi người nghe nhiều đến Mark Kelly bởi ông là phu quân của nữ dân biểu Gabrielle Giffords, người bị một tay súng điên loạn bắn vào đầu giữa lúc bà đang nói chuyện với cử tri tại Tucson, Arizona vào tháng Giêng năm 2011 – cuộc xả súng đã lấy đi mạng sống của sáu người và làm bị thương hai mươi sáu người khác. Sau đó Mark Kelly đã rời NASA để dành trọn vẹn thời gian chăm sóc cho vợ mình. Nhưng người “thường dân” như tôi không hề biết đến Scott Kelly. Không ngờ Mark Kelly lại có người anh em song sinh cùng làm trong lãnh vực không gian như ông. Scott Kelly sẽ thực hiện sứ mạng lâu một năm trên Trạm Không gian Quốc tế (ISS), phi vụ độc hành dài nhất từ trước tới nay của NASA. Thử nghiệm này chỉ có tính quan sát, nhưng có lẽ những gì mà giới khoa học tìm thấy được sẽ rất thú vị.

Cả hai anh em họ đều giỏi, tôi suy nghĩ chủ quan như vậy. Và khi hai cá thể giống hệt nhau được đặt trong hai môi trường hoàn toàn khác biệt, họ sẽ có những biến đổi thế nào? Tôi gật gù, cảm thấy hào hứng lắm. Để chờ xem!

Nhưng tôi chợt ngẩn người.

Tôi cũng có một người anh em song sinh. Sinh đôi cùng trứng. Nghĩa là chúng tôi giống hệt nhau, như Mark và Scott. Ở nhà, ba má tôi cho tôi làm anh, vì tôi “ra” trước. Nhưng sau này, tôi lại nghe có một quan niệm trái ngược, đó là: ai ra trước thì làm em, vì “đứa kia” nhường em nó, cái gì cũng nhường ưu tiên cho em hết cả. Quan niệm này cũng hay hay đấy! Tôi không biết các gia đình có con sinh đôi nghĩ thế nào. Nhưng anh em tôi không quan tâm lắm, vì chúng tôi vẫn gọi nhau bằng tên, không ai giành làm anh hay làm  em gì cả.

Ở gần tuổi năm mươi, hai anh em Kelly bước vào cuộc thí nghiệm “thay đổi theo môi trường”. Cũng vào tuổi gần năm mươi, anh em tôi nhìn lại sự thay đổi, nếu có, theo môi trường. Thử nghiệm của nhà Kelly sẽ là trong một năm. “Thử nghiệm” của anh em tôi, tính ra đã gần ba mươi năm!

**

Tôi ngồi vào máy. Yahoo messenger. Chat!

“Hi!” (tôi chào)

“Hi hi” (bên kia cười)

“Hành làm gì đó?”

“Chat.” (Vậy là hòa đồng ngôn ngữ)

“Vẫn vui với lũ nhỏ chứ?”

“Vẫn. Còn Phi?”

“Vẫn. Toàn người lớn.”

“Hi hi”

Chưa gì thì người anh em của tôi đã chào:

“Bye nghen! Có khách rồi!”

“OK, bye.

Và thế là cái khung chat chỉ còn mình tôi. Tôi thở dài. Hành, anh em sinh đôi của tôi đấy, lúc nào cũng bận rộn. Tôi có “người lớn” là các bệnh nhân của tôi. Còn Hành, như con thoi, chạy tới chạy lui không thấy lúc nào nghỉ. Má tôi vẫn ghẹo anh em tôi: đứa thì bay, đứa cứ phải đi bộ. Chẳng là ba của chúng tôi mê truyện và phim khoa học không gian lắm, nên ông đặt tên chúng tôi là Phi và Hành, mà chắc là ông cũng mong ước chúng tôi lớn lên sẽ làm phi hành gia. Cái năm mà Apollo 11 đưa người lên mặt trăng, cả nhà chúng tôi say mê dán mắt lên ti-vi, hình đen trắng. Hai thằng tôi mới có năm tuổi, thì thầm với nhau về nỗi ước ao được mặc bộ đồ phi hành gia, bước khệnh khạng trên mặt đất cung trăng, trông oai “ra phết”. Chỉ biết là oai thôi, không biết gì hơn. Vậy mà, càng lớn thì anh em chúng tôi càng mê làm phi hành gia thật sự. Ba má chúng tôi mừng lắm, nhưng cũng lo lắng lắm. Bởi vì phải học cho thật giỏi, muốn làm phi hành gia phải ra ngoại quốc học chứ! Anh em tôi còn nhỏ quá, chỉ việc chúi mũi vào sách vở, phim ảnh, xem cho “đỡ ghiền”. Hai chú nhóc tôi học cũng không tệ, lúc nào cũng chia nhau hạng nhì, nhất trong lớp. Ba má chúng tôi ươm hy vọng dần dần…

**

Đêm nay, tôi nhìn lên bầu trời. Một mảnh trăng tròn. Không có gì hoàn hảo hơn! Bỗng như thấy lại một vùng thơ ấu của anh em tôi. Ngày đó, với cái ước mơ trở thành phi hành gia của hai chú nhóc, anh em tôi quấn quít nhau không rời. Ba má chúng tôi có đi đâu cũng yên tâm vì hai chú nhóc biết lo cho nhau. Người ta nói anh em hoặc chị em sinh đôi (mà phải là identical twins như chúng tôi cơ!) có những ý nghĩ, những ước muốn, và cách hành động giống nhau. Có lẽ đúng thế. Mà thật lạ, càng lớn thì chúng tôi càng xa rời cái ước mơ làm phi hành gia. Cuộc sống thực tế dần dần thay đổi chúng tôi. Lên cấp ba, tức trung học đệ nhị cấp, hai anh em tôi thấy rõ ước mơ của mình là trở thành bác sĩ. Nghĩ cho cùng cũng chẳng có gì lạ. Có nhiều bạn khi còn bé thích làm cô giáo thầy giáo, suốt ngày đứng trước bảng dạy học cho mấy bé con nít hoặc cho đám búp bê, tới lớn thay đổi, lại thích làm nghề khác là thường. Và cứ thế mà tiến lên. Hai anh em chúng tôi cùng đậu vào trường Y, thế mới vui chứ! Ba má chúng tôi là những người vui nhất.

Một đêm, tôi nhớ, không trăng. Tôi không rủ ai đi cùng, một mình bơi ra biển.

Không ai hiểu tại sao. Chỉ có tôi hiểu mình muốn thay đổi hoàn cảnh mình đang sống. Tôi không nỡ bắt người anh em của tôi thay đổi theo. Và thế là tôi xa mái nhà của mình, xa ba má và người anh em của tôi.

Mỗi mùa Trung Thu về, tôi lại nhớ ray rứt những trò chơi “làm phi hành gia” của hai anh em. Hành bên đó tiếp tục học ra bác sĩ. Tôi vất vả bên này tự lực và cũng học ra bác sĩ dù chậm hơn người anh em của mình đến vài năm. Cứ như là tôi đã chọn làm một cuộc thử nghiệm vậy.

**

Năm 2015, Scott Kelly sẽ là người Mỹ đầu tiên ở trên không gian một năm. Trước đó, đã có năm người Nga sống như vậy. Nhưng đặc biệt, Scott sẽ được so sánh với Mark, ở yên trên trái đất. Cả hai anh em sẽ cung cấp mẫu máu và các mô của cơ thể mình cho giới khoa học để nghiên cứu. Các mẫu của Scott sẽ giúp xác định những biến đổi về gene, nếu có, xảy ra trong suốt thời gian sống bên ngoài trái đất. Trong điều kiện không trọng lực, những chuyển động của cơ thể sẽ gây ảnh hưởng lớn trên mắt, trên tai, trên não – điều này có thể gây mất định hướng. Đầu có thể sung huyết và mặt có thể sưng do sự tái phân bố chất dịch. Tốc độ lọc của thận sẽ tăng. Mất calcium trong xương có thể dẫn đến sạn thận. Xương và cơ sẽ yếu đi. Chân sẽ bị phù. Giảm huyết tương gây thiếu máu tạm thời khi trở về trái đất. Và cuối cùng, nguy hiểm hơn cả, đó là sự tiếp xúc lâu dài với các tia vũ trụ dẫn đến nguy cơ cao mắc các bệnh ung thư.

Bao lâu nay tôi vẫn lo rằng người anh em của tôi ở lại quê nhà, sống trong một môi trường nhiễu nhương, rồi sẽ như thế nào. Hành có biến đổi như bao nhiêu người đã biến đổi? Trong một lãnh vực mà nghề nghiệp có thể giúp người ta thăng tiến về kiến thức, về khả năng phục vụ, giữ gìn y đức, nhưng cũng có thể biến người ta trở thành kẻ chạy theo đồng tiền và danh vọng mà quên đi chức năng thiêng liêng của mình là cứu người, Hành sẽ ra sao? Lúc mới ra trường, Hành vì là thành phần không có “thân thế” nên phải vào nhóm công tác lưu động, suốt năm đi về vùng quê hay lên miền ngược. Sau lần bị lật xe, Hành bị thương, mới được về làm trong bệnh viện. Rồi một lần khác, tôi nghe nói Hành bỏ bệnh viện, sau khi lên tiếng chống lại các chức sắc trong bệnh viện vì bất bình trước sự phân biệt đối xử. Sau đó, Hành không đi làm “công chức” nữa. Nói theo cách của Hành là “bây giờ tà tà, làm quơ quào đủ sống, không vướng bận”. Ba má tôi buồn lắm. Tôi cũng buồn. Phải chi ngày ấy tôi can đảm rủ Hành cùng ra biển!…

Tôi lấy vợ. Bên nhà, Hành chưa chịu lấy vợ. Cuộc sống của tôi bên này tạm gọi là êm ả, tuy công việc bệnh viện thường không mấy dễ chịu. Nhưng đó là đặc điểm của nghề nghiệp thôi. Tôi cũng sắp xếp được để đủ thì giờ thưởng thức cuộc sống.

Người anh em của tôi bên nhà ít kể lể về cuộc sống của mình. Tôi không biết gì nhiều ngoài những chữ ngắn gọn “tạm ổn”, “OK”, “chưa chết”… mà Hành hay nói tếu. Hỏi ba má tôi, các cụ chỉ nói: “Nó nghèo lắm con ơi! Nó làm việc ở ngoại thành, đi suốt ngày, ăn mặc đơn giản, tiêu xài tiết kiệm…”

Trong một lần chat:

“Phi bảo lãnh ba má và Hành qua Mỹ sống ha!”

“Ba má nói già rồi không đi đâu, còn Hành cũng không đi.”

“Hành qua đây học thi lại lấy bằng bác sĩ.”

“Không phải vì chuyện làm bác sĩ. Hành cũng đang là bác sĩ.”

“Nhưng Hành bị thua thiệt quá!”

“Đâu có gì thua thiệt, Hành chấp nhận mà!”

“Vậy…”

“Vậy Phi về thăm nhà một lần đi!”

“Không… Phi chưa chấp chận chuyện về lại…”

Hết chat.

Tôi sợ Hành sẽ như Scott hay ai đó ở trong môi trường không trọng lực, cơ thể sẽ biến dạng, ung nhọt sẽ bùng lên. Cái xã hội mà Hành đang sống làm cho con người điên đảo, nhiễm tánh vị kỷ, có khi trở nên tàn ác với đồng loại chỉ vì lợi ích của mình. Có phải những tin tức mà tôi xem và nghe được hàng ngày làm cho tôi có tâm trạng như vậy chăng? Hay vì câu chuyện thử nghiệm trên hai anh em sinh đôi Mark và Scott Kelly làm tôi liên tưởng đến anh em mình?

**

Đêm rất khuya. Một đêm trăng khuyết. Tôi không ngủ được, ra mở máy PC, định gọi Hành, nhưng Hành đã có sẵn ở đó.

“Có cái này cho Phi coi.”

“Cái gì thế?”

“Bảo về chơi không về, thì quay cái phim này cho coi vậy.”

“Phim về cái gì?”

“Coi sẽ rõ.”

Hành gửi qua cho tôi một cái “link” YouTube. Tôi cười. Chúng tôi cũng khá biết tận dụng internet lắm chứ!

Một đoạn phim ngắn.  Cảnh quay từ xa cho thấy một con đường sạch sẽ nhưng là ở ngoại ô, ít xe cộ. Tiến đến gần, người xem thấy một cái cổng xinh xắn dẫn vào một ngôi nhà trông như một cái trạm y tế xã. Tấm biển gắn trên cửa, ghi “Trăng Thơ Ấu”.

Tôi giật mình. Trong khung chat, hiện ra câu của Hành:

“Thấy gì chưa?”

“Sao lại là Trăng Thơ Ấu?”

“Thì là trăng của Phi Hành… gia đó!”

“Có ý nghĩa gì?

“Vào trong sẽ biết.”

Tôi “vào trong”. Ôi, cả một thế giới thơ mộng mà tôi chưa từng được thấy! Những bàn ghế, kệ sách màu sắc tươi vui, các bức tường trang trí dịu dàng mát mắt, với những hình “trăng khuyết” – nói theo cách của anh em tôi – đính nhè nhẹ trên đó. Trong cái thế giới ấy, có các em bé và cả những người lớn đang chơi với nhau những trò chơi ngộ nghĩnh. Họ vẽ trên những khay cát. Có người thì đàn, có người thì hát. Có người ngồi ôm con ru ngủ. Có người yên lặng đọc sách.

“Hiểu gì chưa?” Hành hỏi.

“Sơ sơ.”

“Hi hi.”

“Nhưng sao lại là Trăng Thơ Ấu?”

“Vì đó là giai đoạn rất non nớt của trăng, tức là trăng non đấy, nhưng nói cho nó văn vẻ chút mà!”

Tôi để trống phần câu của mình.

Hành viết tiếp:

“Những đứa bé trong căn nhà này bắt đầu cuộc đời của mình bằng những nốt nhạc lạc lõng. Các em bị những chứng bệnh tâm lý. Không ai hiểu chúng, ngay cả cha mẹ của chúng. Nơi đây, mọi người được trị liệu bằng những phương pháp chuyên biệt. Nhưng điều quan trọng là mọi người học cách hiểu nhau, hàn gắn vết thương cho nhau.”

Tôi lại chừa trống.

Hành viết tiếp:

“Tất cả chi phí hoạt động của cái “club” này đều do anh chị em tự lực, cộng thêm sự giúp đỡ của các “mạnh thường quân” khắp nơi. Coi như một cái “nhà trẻ” cũng được, nhưng “người giữ trẻ” toàn là bác sĩ. Hi hi.”

Tôi thở ra, nghe nhẹ người. Bên kia Hành giục:

“Viết gì đi chứ!”

“Phi vui lắm!”

“Vui sao?”

“Vui là vui quá vui.”

“Hi hi.”

“… vì mình còn giữ mãi vầng trăng hồi còn nhỏ của tụi mình.”

“Ừa, hồi đó… hai đứa mơ làm phi hành gia há!”

“Ừa.”

Tôi mỉm cười. Người anh em của tôi bên nhà sẽ không thấy tôi cười, và cũng không biết được tôi đang nghĩ gì đâu! Cuộc “thử nghiệm” không tùy ý của chúng tôi sau gần ba mươi năm đã có kết quả. Cái “môi trường không trọng lực ấy” không ảnh hưởng gì đến cái “gene” trong người anh em sinh đôi của tôi.

Tháng Tám, 2013

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

 

 

 

 

 


alt

alt

 

 

 

Giữa dòng đời tấp nập, một em bé tội nghiệp, thân hình gầy gò, áo quần rách rưới nằm chỏng chơ trên đường phố, cầm trên tay chiếc lồng đèn trung thu hình con thiên nga đã hỏng, gãy mất một cánh, ngắm nghía rất chăm chú…

**

Một bức ảnh được tung lên internet, làm cơn xúc động ùa đến trong những trái tim người. Em nghĩ gì trong giấc mơ giữa ban ngày của em? Một mẩu bánh nướng thơm phức, một chiếc lồng đèn mới toanh, một mái nhà đầm ấm, hay một lớp học với em và các bạn quần áo chỉnh tề??? Người qua kẻ lại, xe cộ ngược xuôi, có ai thấy em bên vệ đường? Có khi nào trong giấc mơ ban ngày của em, em thấy mình được lên cung trăng? Xu thoát khỏi trang web có hình em bé đó, thở dài. Vậy mà… Xu có đấy! Xu là một người từ nhỏ đã có trong đầu một thế giới mộng mơ. Cô bé không là “con người khoa học” quá đâu! Cô bé  không giỏi về vật lý học, chỉ đủ điểm để không phải thi lại. Nhà đông anh em, Xu là con giữa. Con giữa thì sung sướng vì không phải làm việc nhiều, bởi việc gì nặng nhọc thì đã có anh chị lớn lo. Nhưng con giữa thì lại rất hay “bày trò” vì sau mình còn một lô em. Vâng, Xu rất hay “bày trò”. Chẳng qua là cô bé giàu tưởng tượng, lúc nào cũng vẽ ra một thế giới ảo để mình vui và lôi kéo bầy em vào cùng. Coi vậy mà các em cũng thích lắm. Bởi vì có sự “bày trò” của Xu, các em lại có dịp ăn những món ăn lạ lùng, chơi những trò chơi ngộ nghĩnh, và nhất là được nghe Xu kể chuyện. Về mục này thì không có gì khó khăn cả. Xu tiếp nhận những câu chuyện cổ tích từ bà ngoại. Bà ngoại là một cái kho “chuyện đời xưa”. Và Xu cứ sao chép “nguyên xi” những câu chuyện bà ngoại kể là có thể tạo ra những buổi “diễn thuyết” cho bọn nhóc nghe đến mê tít rồi. Bà ngoại dần dần già yếu. Xu thay bà kể chuyện cho các em nghe. Thôi thì đủ loại, từ Tấm Cám, Thằng bé sọ dừa, Ăn khế trả vàng, Trầu cau… cho đến một lô chuyện gọi là “sự tích”. Không biết ai đã sáng tác ra chữ “sự tích” nghe rất hay. Ý nghĩa của nó là nguồn gốc, nguyên cớ nào mà có một đồ vật, một loài hoa, một loại cây, hay những loài muông thú. Nào là sự tích trái thơm, sự tích bánh chưng bánh dầy, sự tích con muỗi, sự tích con thạch sùng v.v… Và mùa Trung Thu thì có chuyện chú Cuội cây đa. Thuở nhỏ Xu đã thấy sự mâu thuẫn trong chuyện chú Cuội cây đa mà hỏi không ai giải đáp. Số là bà ngoại kể chú Cuội một hôm nọ đi vào rừng, nấp thấy mấy con cọp con bị người ta làm cho bị thương, rồi cọp mẹ nhai một nắm lá đắp vào cho các con, vết thương đã lành mau chóng. Cuội bứng cái cây đó về trồng và gọi đó là cây đa. Cây đa giúp Cuội chữa lành bệnh cho nhiều người, ai cũng quý mến Cuội. Trong số đó có một cô gái sau khi được Cuội cứu sống đã kết duyên cùng Cuội. Một hôm vợ của Cuội vô tình … đi tiểu nơi gốc cây đa, làm cây đa tức giận bật gốc bay lên. Cuội đi về, thấy vậy tiếc cây đa bèn nắm chặt rễ cây đa và như vậy là phải bay cùng với cây. Cây đa bay mãi, bay mãi, lên tận cung trăng. Từ đó Cuội “ôm một mối mơ” ngồi một mình trên cung trăng nhìn xuống trái đất, Cuội buồn vì chẳng bao giờ có thể về lại với loài người.

Rõ ràng là phải ở trên cung trăng hoang vắng rồi thì Cuội mới ngồi gốc cây đa, cô độc cho đến khi trở thành “Cuội già”. Vậy mà lại có câu đồng dao:

“Thằng Cuội ngồi gốc cây đa

Bỏ trâu ăn lúa gọi cha ơi ời

Cha còn cắt cỏ trên trời

Mẹ còn đánh trống đi mời quan viên”

Xu không hiểu ra sao nữa… Thôi kệ, chuyện thì cứ kể, ca dao thì vẫn cứ thuộc. Hình như sự dễ dãi đã là một nét rất đáng yêu của người Việt Nam. Không hại gì ai.

Nhưng hình như càng lớn, Xu càng khó tính. Xu muốn cái gì cũng phải hoàn toàn, cũng phải thật. Chuyện kể cho con nít nghe lại càng phải thật. Mỗi mùa Trung Thu đi qua, Xu lại càng muốn có một cái gì mới mẻ cho các em.

Cho đến một ngày, cô bé Xu reo lên trước một tin rất hấp dẫn. Anh Cả “dịch” lại đó là những con người địa cầu đầu tiên theo phi thuyền Apollo 11 lên đến mặt trăng. Mọi người dán mắt nhìn lên màn ảnh ti-vi đen trắng. Xu hồi hộp. Xem kìa, những bước chân của con người đang đi trên mặt đất của cung trăng! Ở một nơi mà trọng lực chỉ bằng một phần sáu trọng lực trên trái đất, bước chân của họ trông mới “ngộ” làm sao! Họ đi khệnh khạng, có vẻ như thân mình nhẹ quá nên họ cứ như bơi trong nước. Xu nghe trong lòng có một niềm cảm động. Ôi! Những bước chân “chập chững” của con người, là cả một quá trình gian khổ của khoa học. Các em cũng trố mắt ra nhìn. Lũ nhóc lao nhao:

-         Thế chú Cuội ngồi gốc cây đa đâu anh?

Anh Cả trịnh trọng, ra vẻ con nhà khoa học gớm, và nói:

-         Làm gì có chú Cuội! Chỉ toàn là đá thôi! Cũng không có sự sống nữa.

Lũ nhóc “ồ” lên. Có đứa tiu nghỉu. Còn cô bé Xu hay “bày trò” lại càng tiu nghỉu hơn. Thôi thế là hỏng hết công lao! Cả một thế giới thần tiên có cơ sụp đổ. Không có không khí, không có nước, chú Cuội làm sao sống?

Thế nhưng cô bé Xu không phải là người dễ đầu hàng. Cô bé đã lái câu chuyện mặt trăng qua một “đề tài khoa học”. Chà, nghe có vẻ “trí thức” ghê! Đề tài khoa học! Mà thật thế, Xu bảo bọn nhóc em mình ngồi chung quanh, rồi dẫn giải chuyện các phi hành gia của phi thuyền Apollo 11 bước những bước chân đầu tiên lên đất mặt trăng như thế nào và tại sao…  Lúc này là lúc cô bé mang hết kiến thức tiểu học và trung học của mình ra để nói cho bọn nhóc hiểu. Xu chẳng đã là cô giáo của những lớp học “ảo” đó sao? Và thế là có một buổi diễn thuyết không kém tưng bừng. Anh Cả và chị Hai cũng phải lắc đầu chào thua cô bé và lặng lẽ “rút lui có trật tự”.

**

Thật tình Xu là cô bé thích “bày trò” cho nên không lúc nào không suy nghĩ. Mà đã suy nghĩ thì phải làm. Bao nhiêu năm tháng đi qua, Xu vẫn thích mỗi mùa Trung Thu lại xếp thật nhiều lồng đèn. Làm lồng đèn có khung tre thì hơi khó và mất thời gian, chứ làm lồng đèn xếp thì dễ lắm. Xu biết xếp lồng đèn hình trụ kéo lên hạ xuống như chiếc đàn phong cầm gọi là đèn xếp, rồi lồng đèn chữ V, khi giăng ra sẽ thành quả trám, rồi lồng đèn trái bí v.v… Nói chung là theo cùng một nguyên tắc: xếp quạt giấy. Những kiểu đèn xếp như vậy, ở những nơi sản xuất người ta dùng máy để nhún, còn Xu thì nhún bằng tay. Làm xong một lô đèn thì móng tay cùn đi rất nhiều. Nhưng kệ, làm thì vui. Xu cho các em của mình chơi, và còn mang đi cho các bé ở cô nhi viện nữa. Cứ như thế, cô bé Xu hầu như không biết mình lớn lên. Đến cái tuổi các em mình không còn thích chơi lồng đèn nữa, mỗi Trung Thu Xu vẫn xếp đèn đem đến cô nhi viện, vẫn thích mua một lô đèn cầy và thắp đầy bậu cửa sổ, ngồi ngắm đèn, trông trăng cho đến khuya.

Sự thật về mặt trăng đã rõ ràng từ năm 1969, lúc con người lần đầu tiên đặt chân lên đó. Nhưng vẫn còn tục lệ chơi lồng đèn, cũng như tập quán ăn bánh nướng, bánh dẻo. Chẳng bao giờ người ta nói: “Thôi, hãy ngưng những thứ đó đi!” Vì lý do thương mại ư? Cũng có đấy! Nhưng một phần cũng vì nó đã thành cái nề nếp đáng yêu. Bởi vì dù là một nơi hoang vu không có sự sống, mặt trăng đối với người đứng trên trái đất vẫn là một vật thể gần gũi, thân thương. Khi lớn lên, đi xa nhà, cái cảm nghĩ gần gũi với mặt trăng lại càng sâu đậm. Cùng nhìn một vầng trăng, là người ta cảm thấy các miền địa đầu đều gần lại. Và con người, Đông cũng như Tây, vẫn còn say mê những câu chuyện cổ tích dù biết nó là không thật. Vâng, những chuyện cổ tích không bao giờ lỗi thời.

**

Những dịp Tết Trung Thu tham gia với cộng đồng Việt, Xu vẫn thấy những chiếc lồng đèn truyền thống được phát cho các em thiếu nhi. Đèn xếp, đèn ông sao, đèn cá chép, đèn chiếc tàu, đèn con bướm, đèn con thỏ… hơi cổ điển một chút, nhưng vẫn đáng yêu hơn những chiếc đèn “hiện đại hóa” làm từ Trung Quốc.

Một lần đi đến Viện Bảo tàng Không gian ở Washington D.C., Xu đứng ngắm mãi mẩu đá mặt trăng được Apollo 17 mang về. Xu nhớ câu “Trăng bao nhiêu tuổi trăng già?” và ngẫm nghĩ trăng đã hơn bốn tỉ tuổi, đá mặt trăng đem về trái đất phải được tồn trữ trong nitrogen, không ai được đụng trực tiếp tới đá mặt trăng mà phải cần tới những dụng cụ đặc biệt, Xu chợt thấy có những cái thật gần mà cũng quá xa. Cuộc sống cũng như thế!

Có những ước mơ tầm thường trong đời sống mà mãi không thực hiện được, và mặc nhiên những điều đó lại biến thành xa vời hơn cả chuyện cổ tích. Ở một thời đại mà những chiếc lồng đèn đã được “hiện đại hóa” thành những chiếc đèn tự động, biết chớp tắt, biết phát sáng mà không cần thắp nến, lại còn biết phát ra nhạc…, vẫn còn có những em bé mơ một chiếc đèn lành lặn mà không có, cũng như mơ có một mái nhà và những bữa cơm gia đình đơn sơ mà không được, thì câu hỏi “Em có mơ thấy mình lên cung trăng không?” chắc là ngô nghê lắm! Không, hiện tại em đang sống giữa dòng đời xuôi ngược, chen chúc trong những quán ăn đông nghẹt người. Tiệm đông khách, em mừng hơn cả chủ tiệm vui mừng. Vì khi những thực khách đứng dậy với vẻ mặt no nê thỏa mãn, thì em, và các bạn em, chạy nhanh đến, mỗi đứa bưng lấy một tô, húp lấy húp để phần thức ăn thừa. Sau đó các em cũng có được nét mặt no nê, thỏa mãn, một cách rất tội nghiệp. Rồi em và các bạn em sẽ trở về “nhà” của các em, là những bãi rác, những chân cầu, những xóm nghèo lầy lội...

Một người bạn của Xu còn ở Việt Nam, kể cho Xu nghe rằng Trung Thu năm nay bạn đi phát quà cho trẻ em nghèo, người ta cho bánh nướng bánh dẻo nhưng không cho lồng đèn. Bạn buồn. Bạn nói cuộc sống đi dần vào chuyện ăn uống mà bỏ hết những phần thơ mộng. Ai còn nghĩ đến chuyện thơ mộng, sẽ bị gọi là “người cõi trên”, là “E.T.”, tức người ngoài hành tinh.

Nửa tháng trước đêm Trung Thu năm nay, Xu rưng rưng theo dõi hình ảnh buổi lễ thủy táng phi hành gia Neil Armstrong, người đầu tiên của trái đất bước chân lên mặt trăng, thần tượng của tuổi thơ Xu. Xu nói với ông:

- Ông ơi! Phi hành gia chinh phục được không gian, đến được quê hương của chị Hằng chú Cuội, có chinh phục được nỗi đau của con người???

Xu nghe ông trả lời trong khi tro của ông được rải trên mặt biển:

- Bé Xu ơi! Hãy nhìn lên mặt trăng. Tất cả câu trả lời ở trên đó. “Người cõi trên” hay E.T. là những người có thể biến ước mơ thành sự thật. Hãy cứ ước mơ!

Cám ơn ông, ông phi hành gia, và cám ơn tất cả các phi hành gia. Ngày xưa có lúc Xu giận các ông lắm, vì các ông đã làm cho cả một thế giới thần tiên của Xu và các em bị sụp đổ. Nhưng không, cho đến bây giờ, con người vẫn gần gũi với trăng, thậm chí còn tìm hiểu về trăng nhiều hơn nữa. Các nhà khoa học còn cho biết rằng những khi có “super moon”, trăng sẽ to khác thường nếu trăng chiếu rọi qua những vật ở cận cảnh, như cây cối, nhà cửa… Đó là “ảo ảnh trăng”. Là ước mơ. Nhưng là thật.

Em bé nằm giữa phố đông người không mơ trăng, nhưng em đang cầm chiếc lồng đèn rách. Em ơi! Bao giờ còn lồng đèn, chúng mình vẫn còn mơ mộng. Đó chính là ước mơ trả lại sự hồn nhiên cho tuổi thơ em.

Trung Thu 2012

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

 

 

 

 

 

Phút giây chờ đợi đến rồi,
Bầy em bé cứ đứng ngồi không yên.
Kia rồi ! Từ chốn thần tiên
Trăng tròn vành vạnh nhô lên... mái nhà
Rung rinh sau ngọn tre già
Miệng cười hớn hở như là trẻ thơ
Đã qua giây phút đợi chờ
Mà bầy em bé còn ngơ ngẩn nhìn
- Chao ôi ! Trăng thật là xinh
Mau mau đến với chúng mình trăng ơi!
Tiếng reo dậy một góc trời
Nói sao cho hết niềm vui dạt dào...
Thế rồi bé trước lớn sau
Kéo nhau ra ngõ với bao nến đèn
Và bao câu hát tưng bừng
Mừng trăng quá bước đêm rằm trung thu.

Đèn Biển

tuoihoa.hatnang.com